Còn có tên gọi là bạch lựu, tháp lựu, lựu chùa Tháp.

Tên khoa học Punica granalum L.

Thuộc họ Lựu Punicaceae.

Ta dùng vỏ thân, vỏ cành, vò rễ phơi hay sấy khô (Cortex Granati) hay có khi dùng vỏ quả lựu phơi hay sấy khô (Perìcarpium Granati). (Vỏ, thân và rễ lựu có độc, dùng phải cẩn thận).

A. Mò tả cày lựu

Cây lựu là một cây thuộc mộc, cao chừng 3- 4m, cây nhỏ, có khi có gai. Lá dài, nhỏ, mềm mỏng, đơn, mép nguyên có khi mọc thành cụm nhưng thường mọc so le hoặc hơi mọc đối, cuống ngắn. Mùa hạ nở hoa màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) hoặc mọc riêng lẻ hoặc từng xim có độ 3 hoa.

Quả to bằng nắm tay. Đầu quả còn 4-5 lá đài

tổn tại. Vỏ dày, ngoài da sắc lục, khi chín có màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có 8 ngăn xếp thành hai tầng, tầng trên có 5 ngăn tầng dưới có

  1. Các loại ngăn phân cách bởi các màng mỏng, hạt rất nhiều, hình 5 cạnh, sắc hồng trắng. (Hình 119., Hm 8,1)

B. Phân bố, thu hái và chê biến

Được trồng ở khắp nơi để làm cảnh và lấy quả. Trồng bằng cách đâm cành. Tỷ lệ ancaloit thay đổi tùy theo cách bón phân.

Nếu bón bằng canxi supephotphat tỷ lệ ancaìoit sẽ là 5,5% (cành) và 7,5% (rễ).

Nếu bón bằng phân amon sunfat thì tỷ lệ ancaloit là 4,2% (cành) và 6,3% (rễ).

Nếu bón bằng phân sát sunfat tỷ lệ ancaloií là 5,7% (cành) và 6,1% (rễ).

Vây tỷ lệ ancaloít trong rễ bao giờ cũng cao hơn. Thường người ta quy định tỷ lệ ancaloit toàn phẩn là 2,5%.

Vỏ bóc về phơi khố để dành. Dùng càng sớm càng tốt. Có người nói vò để lâu quá 1 năm không còn tác dụng. Nhưng có tác gìả đã dùng để dành trên 10 năm vẫn còn tác dụng. Không phải chế biến gì khác.

C. Thành phần hóa học

Vỏ rễ, vỏ thân và vỏ cành có chứa chừng 22% tanin (axit galatanic hoặc digalic và axit punicotanic).

Ngoài ra còn chứa các chất ancaloit:

Peletierin CgH|5ON

Ịsopeletierin CaHl₅ON

Cả hai khồng bị NaHCOj đẩy là vì ancaloit có

N bậc 2.

Metylpeletierin C₈HM(CH₃)ON

Pseudopeletierin C₉H₁₅ON

(bị NaHCO, đẩy là vì ancaloit có N bậc 3).

Tỳ lệ ancaloit trung bình tính bằng dạng sunfat trong lkg vỏ là:

Peletierin sunfat 0,7-1 g

Isopeletierin sunfat 1,3-1,5 g

Pseudopeletierin 1,5-2 g

Metylisopeletierin 0,04 g

Nhưng tỷ lộ này thay đổi tùy theo điều kiện hái, cách chăm sóc và bảo quản.

Trong các ancaloit trên chỉ có peletierin, isopeletierìn có tác dụng trị sán.

Theo các tài liệu mới gần đây, người ta không công nhận có peletierin, mà chỉ có isopeletierin, pscudopeletierin và metylisopeletierin.

Trong vỏ quả có chừng 28% tanin và chất màu.

D. Tác dụng dược lý

  1. Tầnin là môt chất có tác dụng săn da và sát khuẩn mạnh.

  2. Chất peletìerin độc đối với sán, nó gây tê liệt đối với ếch: trước giai đoạn tô liệt có một gia đoạn kích thích. Đối với động vật có vú lúc đầu peletìerin tăng độ kích thích của phản xạ, sau đó làm tê liệt thần kinh trung ương và gây ngừng hô hấp mà chết.

Peletierin kích thích cả cơ trcm và cơ vân.

Đối với người, liều 0,5 đến 0,6g peletierin (hơi quá cao đối với điều trị thông thường) đă đủ gây chóng mặt, buồn nôn hoặc nỏn mửa, ỉa lòng,

2—CO —CHs

ísopeletierin

Ũ Clĩa

CH₂

co

Pseudopeletierin

chân tay xỉu đi, người lả, mắt hoa v.v…

Dù với liều điều trị khi dùng thuốc, bệnh nhân cần phải nằm yên trong phòng tối để tránh mọi ảnh hưởng không tốt của thuốc. Thường phối hợp với tanin để tránh tác dụng thuốc quá mạnh.

Peìetierin không dùng được cho trẻ con và phụ nữ có thai.

Thử trên sinh vật: Ngâm các đốt còn sống của con sán Tenia seưata vào dung dịch muối 1/

10.0 peletierin suníat nó sẽ hết cử động trong vòng 5-6 phút. Nếu khi đó lấy ra, cho vào dung dịch muối 1% có thêm 0,1% NajC03 thì sau 15- 30 phút các đớt sẽ cử động lại. Nếu như đã ngâm các đốt sán vào dung dịch peletierin quá 10 phút, các đốt sán sẽ chết hẳn.

Thí nghiệm trên giun đất và giun mỏ (ankylostome) cũng thấy các kết quả tốt.

E. Còng dụng và liều dùng

  1. Làm thuốc chữa sán (phụ nữ có thai và trẻ em khỏng dùng được).

Nên dùng vò rễ lựu vì trong vỏ, chất peletierin, isopeletierin được kết hợp tự nhiên với tanin thành một chất khõng tan, tác dụng nhiều đối với sán ở trong ruột, ít làm mệt cơ thể người. Tuy nhiên uống cả vỏ hơi khó uống.

Nên chọn vỏ mới đào, vì vỏ tươi hiệu lực mạnh hơn do có nhiều ancaloit. Khi dùng rễ khô, cần ngâm nước vài giờ trước khi pha chế thì vẫn có hiệu lực chữa sán (Soubeyran). J. E. de Vrij đã dùng vỏ lựu bảo quản được 13 năm để chế cao mà vẫn có hiệu lực như vỏ tươi.

Ta có thể dùng peletierin chế từ vỏ lựu. Liểu dùng peletierin sunfat thường là 0,30g phối hợp với 0,40g tanin. Một số tác giả cho rằng tác dụng của peletierin có tác dụng thường kèm theo tới

Còn gọi là binh lang, tân lang.

Tên khoa học Areca caiechu L.

Thuộc họ Cau (Palmae). Họ Cau hiện có tên khoa học là Arecaceae.

Người ta dùng hạt cau hay binh lang, tân lang (Semen Arecae) là hạt phơi khô của cây cau. (Tân = khách, tần = chàng. Khi có khách đem

50-60% pseudo-peletierin không có tác dụng. Trong trường hợp này liều dùng phải tăng lẽn từ

0, 30g đến 0,50g trong 24 giờ. Nhưng dùng phải rất thận trọng, có trường hợp dùng liều thường vẫn bị ngộ độc chết người.

  1. Ngoài công dụng chữa sán, vò rễ và vỏ thân còn dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng, chữa đi ngoàỉ, đi lỵ. Nhưng để chữa lỵ đi ngoài, thường dùng vỏ quả (xem vỏ quả ở mục các vị thuốc chữa lỵ).

Ngoài ra còn dùng để thuộc da, làm mực. Đơn thuốc có vỏ ĩựu

ỉ. Thuốc chữa sán theo dược thư của Pháp Vỏ iựu khô tán vừa phải 60 g Nước cất 750 g

Cần ngâm bột trong 6 giờ. Sau đó sắc còn 500g rồi gạn và lọc.

Sáng sớm uống thuốc này, chia làm 2 lần hay

3 lần uống cứ cách nửa giờ uống 1 lần, sau khi uổng liều cuối cùng được 2 giờ thì uống 1 liểu thuốc tẩỵ. Khi uống thuốc cần nằm nghỉ, nhắm mắt lại cho đỡ mệt.

  1. Đơn thuốc chữa sán có phối hợp với thuốc iãy

Vò rễ lựu 40 g

Đại hoàng 4 g

Hạt can 4 g

Nước 750ml sắc còn 300ml.

Tối hôm trước nhịn đói. Sáng sớm hỏm sau uống thuốc này, chia làm 2-3 lần uống. Trong khi uống thuốc cần nằm nghỉ. Đợi khi nào thật buồn đi ngoài hãy đi, mông nhúng hẳn vào một chậu nước âm ấm để sán ra hết.

trầu cau ra mời cho nên gọi là tân lang).

(Có độc - dùng phải cẩn thận).

A. Mô tả cây

Cây cau là một cây có thân mọc thẳng cao chừng 15-20m, đường kính 10-15cm. Toàn thân không có lá mà có nhiều vết lá cũ mọc, chì ở ngọn có một chùm lá to rộng xẻ lông chìm. Lá

có bẹ to. Mo ở bông mo sớm rụng. Trong cụm hoa hoa đực ở trên, hoa cái ở dưới. Hoa đực nhỏ màu trắng, thơm gồm 3 lá đài màu lục, 3 cánh hoa ưắng, 6 nhị. Hoa cái to, bao hoa không phân hóa. Noãn sào thượng 3 ô. Quả hạch hình trứng to bằng quả trúng gà. Quả bì có sợi, hạt có nội nhũ xếp cuốn. Hạt hơi hình nón cụt, đầu tròn giữa dáy hơi lõm, màu nâu nhạt, vị chát (Hình 120).

nhân dân cung trồng nhiều ở My Tho, Bến Tre, Rạch Giá, Cần Thơ v.v…

C. Thành phần hóa học

Trong hạt có tanin. Tỷ lệ tanin trong hạt non chừng 70% nhưng khi chín chỉ còn 15-20%.

Ngoài ra còn chất mỡ (14%) với thành phần chủ yếu gồm: myristin 1/5, olein 1/4, laurin 1/2, các chất đường: sacaroza, mannan, galactan 2% và muối vò cơ.

Hoạt chất chính là 4 ancaloit: Arecolin, arecaidin C₇HnN₀₂, guvaxin C^HyNO., và guvacolin C₇HnN₀₃, Arecolin (hay CH₃ arecaidin) C₈H₁₃N₀₂ chiếm chừng 0,1- 5,0%.

D. Tác dụng dược lý

  1. Tác dụng của arecolin gần giông các chất petetierin, pilocacpin và muscarin.

Arecolin gáy chảy nước bọt rất nhiều. Nó còn làm tăng bài tiết dịch vị, dịch tràng và làm co nhỏ đồng tử.

Dung dịch 1% arecolin bromhydrat làm co nhỏ đổng từ sau khi nhỏ từ 3 đến 5 phút. Sự co nhỏ đồng tử kéo dài từ nửa giờ đến 2 giờ. Có thể dùng làm giảm áp nhãn trong bệnh glôcôm.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 120. Cây cau - Areca catechu

B. Phản bó, trồng hái

Được trồng ở khắp nơi trong nước ta để lấy quả ăn trầu và xuất cảng.

Trồng bằng quả thường sau 5-6 năm mới thu hoạch.

Người ta phân biệt cau rừng (sơn binh lang) và cau nhà (gia binh lang). Cau rừng hạt nhò, nhọn và chắc hơn. Loại sơn binh lang có nhiều ờ Nghệ Tỉnh và Thanh Hóa.

Trước đây (vào năm 1930) diện tích trồng cau ước lượng chừng 2500 hecta ở miền Bắc Việt Nam chủ yếu là Hải Hưng, sau đến Kiến An, Quảng Ninh và cuối cùng đến Nam Hà, Thái Bình. Tại miền trung, diện tích trổng trước đây ước chừng 1.400 hecta. Tại miển Nam Việt Nam,

c—COOCHa

Arecaidin

CH

—COOCHn

NH

Guvaxin

Areclin còn làm tim đập chậm trừ khi có mặt của canxi, tăng nhu động ruột, liều nhỏ kích thích thần kinh, liều lớn gây liệt thần kinh.

  1. Dung dịch hạt cau có tác dụng độc đới với thần kinh của sán, làm cho tê bại các cơ trơn của sán, 20 phút sau khi thuốc vào tới ruột, con sán bị tê liệt và không bám vào thành ruột được nữa.

E. Công dụng và liều dùng

  1. Hạt cau thường được dùng làm thuốc chữa gin sán cho súc vạt như chó vớí liều 4g. Nếu dùng arecolin bromhydrat người ta dùng liều 0,5- lmg.

  2. Dùng chữa sán cho người: phối hợp với hạt bí ngô (xem vị hạt bí ngô).

  3. Làm thuốc giúp sự tiêu hóa, chữa viêm ruột, ]ỵ. Dùng hạt cau khô, môi ngày 0,5 đến 4g.

  4. Chữa ưẻ con chốc đầu: Mài hạt cau thành bột phơi khô hòa với dầu mà bôi. Cần theo dõi

vì có độc.

Nhân dân còn dùng hạt cau phối hợp với thường sơn, thảo quả chữa sốt rét trong đơn thuổc “Thường sơn triệt ngược”.

Chú thích:

  1. Người ta còn dùng vỏ quả cau làm thuốc lợi tiểu với tên đại phúc bì (xem vị này ở mục các thuốc thông tiểu tiện).
  1. Cây cau rừng (sơn binh lang) có tên khoa học Areca laoensis L. cùng họ, với cùng một cống đụng. Một cây cau rừng khác có tên khoa học Pinanga baviensis o. Becc. cùng họ, ít dùng.