Còn gọi là bột chàm.
Tên khoa học Indigo pulverata levis.
Thanh đại (Indigo pulverata levis) là màu xanh chế từ nhiều cây khác nhau, chủ yếu là các cây sau đây:
1.Cây chàm (Indigo feratinctoria L.) thuộc họ Cánh bướm Fabaceae.
2.Nghể chàm (Polygonum tinctorium Lour) thuộc họ Rau răm Polygonaceae.
3.Cây chàm Strobilanthes cusia Bremek, (hay Strobilan thesflaccidifolius Nees), còn gọi là cây chàm mèo thuộc họ Ô rô Acanthaceae.
4.Một số cây khác chưa thấy ở nước ta như: cây Isatis tinctoria L; Họ Chữ thập Brassicaceae và cay Isatis indigotica Fort, cũng thuộc họ Chữ thập Brassicaceae. ở đây chỉ giới thiệu một số cây đã gặp ở nước ta.
A. Mô tả cây
Cây chàm (Indigofera tinctoria L.) là một loại cây nhỏ, sống hàng năm, cao 50-70cm, cành non có lông ngắn trắng. Lá mọc so le, kép, dìa lẻ gồm 7-15 lá chét. Toàn lá dài 3-5cm, lá chét dài 1,5-1,8cm, khi lá khô có màu xanh lam.
Cụm hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Cánh hoa hình bướm, màu đỏ vàng. Quả dài chừng 2,5cm, trong chứa 5-12 hạt, hơi có hình lập phương (Hình 72).
Cây nghể chàm (Polygonum tinctorium Lour) là một loại cỏ nhỏ, sống lâu năm, thân cao 60- 90cm, nhẵn, màu hơi tía đỏ, có nhiều đốt dài. Lá mọc so le, cuống ngắn, phiến hình trứng dài, nguyên, soi lên sáng sẽ thấy những điểm trong do có các hạch. Khi khô, màu lá xanh lam, làm các gân lá nổi rõ.
Lá kèm phủ 1/5 đến 1/2 đốt gần như nhẵn không có lông. Hoa mọc thành bông hình trụ, liên tục, tụ lại thành chùm ở kẽ lá hay đầu cành. Quả nhẵn, 3 cạnh hay hình thấu kính (Hình 73).
Cây chàm mèo (Baphiacanthes cusia) là một cây nhỡ, lá bầu đục, hoa mọc thành bông, màu xanh, tím hồng hay trắng, 4 nhị (2 dài). Quả nang. Dùng để chế chàm nhuộm (Hình 74, Hm 43,3).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây chàm và cây nghể chàm được trồng ô nhiều nơi vùng núi nước ta, để chế thuốc nhuộm màu chàm. Thường cây chàm hay được trồng hơn. Cây này còn mọc hoang và được trồng ở Trung Quốc và môt số nước khác như Malaixia, Ấn Độ, một số nước châu Mỹ, châu Phi. Thường người ta trồng chàm bằng hạt, vào các tháng 2- 5 và hái cây vào các tháng 6-8. Gốc còn lại sẽ nẩy nữa và một tháng sau có thể hái lần thứ 2.
Cây nghể chàm cũng thu hái vào mùa thu, trước khi cây ra hoa.
Cách chế chàm tiến hành như sau:
Cây hái về còn tươi phải cho ngay vào thùng gỗ hoặc xây gạch. Có nơi chỉ tuốt lấy lá mà chế chàm còn thì bỏ cành. Đổ nước sạch vào rồi chờ cho lên men: Mùa nóng chỉ cần ngâm 2-3 ngày, mùa mát phải ngâm tới 5-6 ngày. Nhưng thường thời gian cho lên men này vào khoảng 12 giờ ở nhiệt độ 30°c. Sau đó gạn lấy nước và lọc qua sàng để loại bỏ bớt cọng lá. Cho vôi cục vào để kiềm hóa môi trường, thường 100kg cây chàm thì dùng 8-10kg vôi. Dùng cành cây hay que khuấy liên tục 4-6 giờ để oxy hóa. Dung dịch sẽ nổi bọt lên và ngả màu xanh lam (ta có thể dùng phèn để kết tủa màu chàm). Bột chàm được vớt ra, ép hết nước, cắt thành từng khúc nhỏ để phơi trong mát cho đến khô. Trong khi phơi có thể có mùi amoniac và mốc. Khi dùng, cạo lớp mốc đó đi.
Với lối dùng vôi cục của đồng bào miền núi, chàm lẫn nhiều tạp chất, cứ 100kg cây, được chừng 3kg chàm. Nhưng nếu làm cẩn thận, thì chỉ được từ 200-400g.
Tùy theo cách chế tạo, bột chàm hay thanh đại có độ tinh khiết khác nhau. Thường người ta xác đinh giá trị của thanh đại bằng cách định lượng indigotin. Loại tốt phải chứa từ 60-70% indigotin.
C. Thành phần hóa học
Trong cây chàm chưa có chất chàm ngay, mà lại chứa một glucozit gọi là indican. Khi thủy phân indican sẽ cho glucoza và indoxyl. Chất indoxyl này oxy hóa sẽ cho indigotin. Khi bị khử oxy trong môi trường kiềm, indigotin sẽ cho leucoindigo không có màu.
Chất indigotin có màu xanh lam sẫm, ánh tía, thăng hoa ở 290°, cho các tinh thể hình kim xanh lam, khi bốc hơi cho các khói lam tím. Indogitin không tan trong axit axetic lạnh, trong phenol v.v… và không tan trong nước, trong rượu và trong ête, hơi tan trong tinh dầu thông và dầu nhờn (chất béo).
D. Công dụng và liều dùng
Cây chàm ít được dùng, nhưng chàm hay được dùng làm thuốc.
Cây nghể chàm ngoài công dụng dùng để chế chàm ra, người ta còn dùng toàn cây này sắc uống chữa thổ huyết, nôn mửa, điên cuồng, ra thai hoặc dùng rễ trộn với xạ hương và hùng hoàng để chữa rắn cắn.
Thanh đại hay chàm ngoài công dụng làm thuốc nhuộm màu xanh lam, rất hay được dùng trong đông y làm thuốc chữa sốt giải độc, viêm hạch hạnh nhân, cam tẩu mã, viêm lợi chảy máu v.v…
Uống trong, người ta dùng với liều 2-6g. Dùng ngoài không có liều lượng.
Bình luận