Còn gọi là củ nưa, khoai na.
Tên khoa học Amorphữphaỉỉus rivieri Dur.
Thuộc họ Ráy Araceae.
A. Mô tả cây
Cây sống lâu năm có củ to hình cầu dẹt có khi to hơn đầu một người lớn, thịt màu vàng, ăn hơi ngứa. Lá dơn có cuống dài tới 40cm hay hơn, màu xanh lục nâu có đốm trắng, xẻ ba thành những đoạn dài 50cm, phiến lá khía nhiều và sâu. Bông mo tận cùng bằng một phần bất thụ, hình trụ, màu tím. Mo màu nâu sẫm. Mùa hoa: mùa hạ và thu (Hình 94).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang khấp những nơi ẩm ướt, có khi được trồng để lấy củ ăn hoặc nuôi lợn.
Củ thu hoạch vào các tháng 9-11, cạo sạch vỏ, đổ chín phơi hay sấy khô, khi dùng ngâm cho mềm, thái mỏng rồi ngâm nước phèn chua và gừng, sao cho thơm và hết ngứa.
Củ muốn ăn được phải chế biến nấu với vôi cho hết chất ngứa.
C. Thành phần hóa học
Trong củ khoai nưa của ta chỉ mới thấy tinh bột là một chất ngứa chưa xác định được.
Trong một loại khoai nưa Amorphophalus
konịac K. Koch người ta đã nghiên cứu lấy được một loại tinh bột riêng có thành phẩn chủ yếu là konjac-man nan (hàm lượng tới 50%) khi thủy phân sẽ được laevidulin (hay laevidulinoza).
D. Cồng dụng và liều dùng Trong nhân dân thường đào củ ãn khi đói nhưng phải nấu kỹ với vôi mới khỏi ngứa. Thường xuyên chỉ trồng lấy củ cho lợn ãn.
Trong y dược củ tươi giã nát dùng đắp mụn nhọt, dùng trong bị ngứa và người ta cho có chắt độc nhưng khi nấu với vôi thì chất độc giảm hay mất đi. Người Nhật dùng tinh bột khoai nưa để àn. Tinh bột khoai nưa còn có thể dùng nấu rượu. Củ còn dùng chữa rắn cắn.
Đơn thuốc có khoai nua Đơn thuốc chữa liệt nửa người, củ khoai nưa sống lOg, ô đầu lg, phụ tử lg, nước 600ml sắc kỹ còn lOOml chia nhiều lần uống trong ngày. Chú ý thuốc có độc, phải đun kỹ mới hết chất độc, khi dùng phải theo dõi.
CÂY LA te)#
Còn gọi là la rùng, ngoi, cà hôi, phô hức (Thổ), chìa vôi, sang mou (Luang prabang-Lào).
Tên khoa học Solanum verbascỉfoỉium L. (Soỉanum pubescens Roxb, Soỉanum erian- thum Don.).
Thuộc họ Cà Solanaceae.
A. Mô ỉả cây
Cây nhỏ hoặc nhỡ cao 2,5-5m. Toàn cảnh, lá phủ một lớp lông dày hình sao màu vàng nhạt, hoặc vàng xám. Lá mọc cách, hình thuôn, hai đầu nhọn, mép nguyên, cà hai mặt đều có lông mịn, dày hơn ở mặt dưới, cuống lá dài 2-4cm.
Cụm hoa hình xìm lưỡng phân hoặc xim ngù, hoa hình chén, phủ đầy lông mềm, ưàng hoa màu vàng nhạt, đường kính 0,5-1,3cm, với 6 cánh hoa hình mũi mác, đầu nhọn. Quả nhỏ, hình cầu, đường kính 6mm, hạt rất nhiều có vân mạng đường kính 2mm.
Lá cây khi vò có mùi thơm phảng phất mùi hổng bì (Hình 95, Hm 52,2).
B. Phán bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang tại khắp các tỉnh miền Bắc như Hà Giang (la, la rừng), Hòa Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, ngay tại Hà Nội cũng có. Ưa mọc nơi dãi náng.
Thường người ta hái lá tươi về dùng. Ngoài ra còn dùng rẻ đào quanh năm, thái mỏng phơi hay sấy khô. Có khi dùng cả cây thái mỏng phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Trong cây la có solanin, saponozit, một ít tinh dầu. Vỏ rễ có 0,3% solasodin. Thành phần khác chưa rõ.
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân, lá la tươi dùng chữa lòi dom,
TODO: thêm hình ảnh
Hỉnh. 95. Cây ỉa - Soỉanum verbascựolium
hắc lào, sán trâu bò.
Tại các nước khác, lá la được dùng chữa tiểu tiện đục và phụ nữ khí hư.
Tại Malaixia lá tươi giã nát được dùng đát lên hai bên thấi dương chữa nhức đầu (theo Burkill và Haniff, 1930. Gard. Bull. s.s. 6: 226). Trong thú y, lá thái nhỏ cho vào lỗ mũi ngựa chữa bệnh sổ mũi của ngựa. Trong y học nhân dân Malaixia {Medicaỉ book of Malayan medicine-Gar. Bull. Sư. Seỉt 6, 130: 335) người ta dùng nước sắc của rễ chống chữa những cơn đau kịch trong người và những rối loạn sau bữa ãn.
Đơn thuốc có lá ỉa
Đắp lòi dom: Lá tươi ngắt bỏ cuống và gân, giã nát sao nóng dịt vào chồ lòi dom sau khi đã rửa sạch bằng nước ấm. Có thể để nguyên lá, úp vào dom hay nướng cháy lá, vo lại cho vào hậu mồn. Nên làm vào buổi tòi trước khi đi ngủ để tránh đi lại. Bệnh nhân bị lòi dom thường khỏi rất nhanh, đi lại bình thường, 2-3 năm không thấy tái phát. Có bệnh nhân dom lòi 4-5cm đùng
CÀ
Còn gọi là cà dại trái vàng.
Tên khoa học Solanum xanthocarpum Schrad và Wondl.
Thuộc họ Cà Soỉanaceae.
A. Mô iả cảy
Cây sống hàng năm, cao khoảng 0,7-lm hay hơn. Toàn thân và lá có màu xanh lục nhạt. Phiến lá to ròng gần giống các loại cà cho quả ăn được, mép lá phân thùy không đều. Đặc biệt toàn thân cây, cuống và gân lá cả haì phía trên dưới đểu có nhiều gai nhọn sắc. Mặt trên và dưới của lá đều có một lớp mỏng lông mịn. Cụm hoa tán ngoài nách lá mọc thành chùm từ 3-5 cái, cánh hoa màu trắng hoặc xanh lục nhạt 5 cánh rời hình sao rộng 2cm. Tiểu nhị vàng, bao phấn dài 8- 9cm. Quả không có lông tròn, ữắng có bớt rằn xanh, khi chín có màu vàng tươi đường kính 2,5- 3cm. Mùa quả quanh năm nhưng nhiều quả nhất vào mùa khô (tháng 11, 12) ở Đà lạt (Lâm đồng)
(Hình 96).
B. Phàn bổ và thu hái chế biến
Cày mọc hoang dại rất nhiều ở tinh Lâm đồng (Đà Lạt, Đức Trọng, Sơn dương…), Đắc Lắc (Buôn Mê Thuộc), Gia Lai-Kon Tum. Cây có khả năng chịu khô hạn rất khỏe, ưa ánh sáng nhiều nhưng cũng có thể chịu được dâm mát, có khả năng mọc tranh chấp vớì cỏ dại. Vào mùa khô (11 đến 4 và 5) cây rụng lá nhiều, để lại những cành rất sai quả, thuận lợi cho việc thu hái (vì khối lượng gai rụng theo lá, dẽ hái, nắng nhiều).
Nguờì ta dùng toàn cây (thân, lá và quả) phơi hay sấy khô.
C. Thành phần hóa học
Năm 1939 Rochemeyer H. (Angexv. Chem. 52
LÂN
Còn gọi là dây sống rắn (Quảng Nam), cây đuổi phượng, (Khu V, mién Bắc), lân tơ uyn khỏi (Bênh viện Hà giang-1966).
Chữa hắc lào: Lá la tươi vò lấy nước, chấm vào vết hắc lào đã rửa sạch.
TÀU
TODO: thêm hình ảnh
Hình 96. Cỏ tàu - Soianum xaníhocarpum
(20), 374) đã chiết từ cây một gluzit có tên solasodin.
Nãm 1980 (Dược học 5, 1980) Hoàng Đại Cử đã định lượng tro trong lá và phần non của cây đang có nhiều quả xanh và chín có 0,05 phần trăm solasodin. Trong quả xanh (gổm thịt quả và hạt) có 2,36%. Trong quả chín vàng (gồm thịt quả và hạt) có 2,20%.
Tác giả còn chiết từ hồn hợp gổm quả xanh già, chín vàng và hạt phơi sấy khô dòn đuợc 1,40% soiasodin đã tinh chế.
D. Còng dụng và liều dùng
Ở nưốc ta hâu như chưa thấy sử dụng làm thuốc. Nhưng ở nhiều nước như Ân Độ, Malaixia, Thái Lan, châu úc người ta dùng toàn cây chữa ho (long đờm), thông tiểu, chữa hen, sốt. Lá, thân và quả dùng làm thuốc bổ đắng chữa phù. Hạt đốt xông khói chữa sâu răng.
Hiện nay có thể dùng làm nguyên liệu chiết solasodin.
Bình luận