IV. CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC CHỮA LỴ VÀ TIÊU CHẢY
- Trên lâm sàng
Rau sam được thí nghiệm chữa có kết quả đối với ]ỵ trực trùng cấp tính (Viện nghiên cứu đông y 1960 chữa 54 trường hợp, khỏi 53); Triết giang trung y tạp chí, 1959, số tháng 8, Thượng Hởi trung y tạp chí 1968, tháng 9: 16-17, (Phúc Kiến trung y dược 1959, tháng 6 chữa 403 trưctng hợp).
Ngoài ra còn có tác dụng chữa ho lâu ngày, ho lao (Thượng Hải trung y dược tạp chi 1959, 3: 40, Thượng Hải trung y dược tạp chí 1960, 3: 130-132).
Dùng ngoài và uống chữa mụn nhọt, sưng đau, trĩ (Trung Hoa ngoại khoa tạp chí 1959, 7: 130-132).
()(*)()Rau sam dược dùng trong nhân dân nhiều vùng ở nước ta và nhiều nước khác làm rau ăn: Nhân dân châu Âu ăn rau này thay xà lách, ản sống hoặc nấu chín.
Nhân dân Việt Nam và Trung Quốc dùng rau sam làm thuốc chữa ]ỵ trực trùng, giã nát đắp mụn nhọt, làm thuốc lợi tiểu tiện, tẩy giun kim.
Tính chất của rau sam theo các tài liệu cổ: Vị chua, tính hàn (lạnh), không có độc, vào ba kinh: tâm, can và tỳ. Trị huyết lỵ (lỵ ra máu), tiểu tiện đục, khó khăn (lâm bệnh), trừ giun sán, dùng ngoài trị ác thương, đơn độc. Phàm những người tỳ vị hư hàn, ỉa lỏng chớ nên dùng.
Liều dùng của rau sam từ 6-12g khô dưới dạng thuốc sắc. Dùng ngoài không kể liều lượng. Dùng riêng hay phổi hợp với thuốc khác.
()(*)()Chữa lỵ cho trẻ em:italic2 Rau sam tươi 250g (hay 50g rau sam khô), nước 600ml, sắc còn lOOml (]ml tương đương với 2,5g rau sam tươi hoặc
0, 50g rau sam khồ). Đơn thuốc này chỉ dùng trong ngày. Nếu muốn sắc 1 lần dùng nhiều ngày thì phải thêm vào 0,5 natri benzoal hay 0,3 nipagin để bào quản. Có thể sấc như trên rổi đóng ống, mỗi ống 5ml (không cần thêm thuổc bảo quản), chỉ cần hàn ngay và hấp tiệt trùng ngay.
Trẻ em dưới nửa tuổi: Ngày uống 4 lẩn, mỗi lần 5ml, nửa tuổi đến 1 tuổi mỗi ngày uống 4 lần, lOml, 2 tuổi trở lên mỗi tuổi thêm 5ml. Ví dụ trẻ em từ 1-3 tuổi, ngày uống 4 lẩn, mỗi lần 15ml: Trẻ 3-5 tuổi, ngày uống 4 lần, mỗi lần 20ml, 5-7 tuổi ngày uống 4 íần, mỗi lần 25ml (kinh nghiệm Trung Quốc, 1960).
Bài thuốc phổi hợp rau sam vá cỏ sữa (Viện nghiên cứu đòng y 1960): Rau sam tươi lOOg, cỏ sữa tươi lOOg. Nếu đi ngoài ra máu thêm 20g cỏ nhọ nồi và 20g rau má. Cho 3 bát nước (600ml), sắc còn 1 bát (200ml). Người lớn uống cả liều, ngày uống 2 liều nói trôn.
Trẻ em tùy theo tuổi: 2 tuổi uống 5-10 thìa cà phê, 3 tuổi ngày uống 3 thìa to, 5 tuổi ngày uống 3 thìa to, 10 tuổi ngày uống 5 thìa to, 15 tuổi ngày uống 150mL (kinh nghiệm của Viện nghiên cứu đông y, 1960). Thường thời gian điều trị là 5-7 ngày.
Thuốc trừ giun kìm: Rau sam tươi 50g, rửa sạch, thêm ít muổi giã nát, vắt lấy nước, thêm ít đường vào cho dể uống. Uống liên tiếp 3-5 ngày.
Xích bạch đới: Giã nát rau sam vắt lấy nước, hòa với lòng trắng trứng gà, hấp chín, ăn ưong vài ngày. Mổi ngày dùng lOOg rau sam tươi.
Trẻ em chốc đầu: Giã nát rau sam tươi, thêm nước, sắc đặc bôi lên hay đốc ra than, hòa với mỡ lợn, bôi vào. Mụn nhọt: rau sam tươi, giã nhỏ đắp lên mụn nhọt, ngòi mụn dể ra.
Đái ra máu: Rau sam nấu canh ăn hằng ngày, liên tục 3-7 hôm.
()()()ề- ()()()
Còn có tên khác là dây mơ lông, dây mơ tròn, thổi địt, ngưu bì đống (tên Trung Quốc). Tên khoa học Paederia tomentosa L.
Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.
Tầ dùng lá cây mơ tam thể.
()(*)()Cây này là một thứ cây leo, lá mọc đối, hình trứng hay mác dài, gốc lá tròn hay hình tim, cuống dài, mặt lá hay bị nấm Aecidium paederiae ăn hại. Hoa tím nhạt, tràng hình ống
Hình ì28. Mơ tam thể - Paederia tomentosa
mọc thành xim kép ờ kẽ lá hoặc đáu cành. Quả hình cầu có đài tồn tại màu vàng nâu, bóng (Hình 128, Hm 9,4).
()(*)()Cây này mọc hoang ở những hàng rào, nhiều nơi trong nước ta. Thường chỉ hái lá tươi khi dùng đến.
c. ()(*)()Trong cây chứa một tinh dầu rất hăng mùi bisunfua cacbon.
Có tác giả (Dymock, Warden và Hooper) lấy được từ cấy này hai chất ancaloit: paederin cc và p, một chất tan trong ête kết tinh dưới dạng kim nhỏ, một chất vô định hình hơi tan trong rượu amylic, cloroíòc và benzen.
()(*)()Chữa lỵ trực trùng Shiga, dùng như sau:
Lá mơ tam thể 30-50g
Trứng gà 1 quả
Lá mơ lau sạch, thái nhỏ trộn vói trứng gà (có người chỉ dùng lòng đỏ, nhưng kinh nghiệm dùng cả quả phổ biến hem). Bọc vào lá chuối đem nướng hoặc đặt lên chảo mà rán (không có mỡ) cho thơm. Ngày ăn 2-3 lần, trong 5-8 ngày.
Thời gian điều trị trung bình 7 ngày (Bệnh viện quân y 108 đã áp dụng rộng rãi từ 1960 đến nay).
Chứ thích:
-
Nhân dân Ân Độ còn dùng cây này để uống trong và xoa bóp để chữa tê thấp; nước sắc cho thêm đường, gừng.
-
Tại Philipin, nhân dân uống nước sắc của lá chữa bệnh sỏi thận, bí tiểu tiện.
-
Loài Paederia íoetida rất gần loài trên, chỉ khác là quả dẹt. Cây Leo, lá mọc đới, mỏng có mùi thối. Hoa màu tím, mọc thành xim, 4-5 lá đài liền nhau, 4-5 cánh hoa liền nhau, 4-5 nhị.
()(*)()Còn gọi lờ ưà.
Tèn khoa học Camelỉia sinensis O.Ktze Ợhea chinensis Seem.).
Thuộc họ Chè Theaceae.
Ta dùng búp và lá chè non (FoUum Theae), sao khô làm thuốc, thường gọi là chè hương hay chè tàu. Còn gọi là trà diệp.
()(*)()Chè là mội cây khỏe, mọc hoang và không cắt xén có thể cao tới lOm hay hơn nữa, đường kính thân có thể tới mức một người ôm không xuể. Đôi khi mọc thành rừng gỗ trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng tỉa thường người ta cắt xén để tiện việc hái cho nên thường chỉ cao nhất là 2m. Nhiều cành đâm ngay từ gốc. Lá mọc so le, không rụng. Hoa to trấng, mọc ở kẽ
lá, mùi rất thơm, nhiều nhị. Quả là một nang thường có ba ngăn, nhưng chỉ còn một hạt do các hạt khác bị teo đi. Quả khai bàng lối cắt ngăn, hạl không phôi nhũ, lá mẩm lớn, có chứa dau. (Hình 129)
()(*)()Chè là một cây nguồn gốc Trang Quốc. Nhân dân Trung Quốc đă biết dùng chè từ 2.500 nâm trước công nguyên, sau tới Nhật Bản và nhiều nước châu Á khác. Hiện nay cẵy chè được trổng ở nhiều nước. Liên Xõ cũ cũng rất phát triển việc trồng chè.
Ở nước ta chè được trổng nhiều nhất tại các tỉnh Phú Thọ, rồi tới Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, các tỉnh miền Nam cũng trổng rất nhiều (Quảng Nam, Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Đắc Lắc, Lâm Đồng).
Chè dùng làm thuốc hái vào mùa xuân: Hái búp và lá non. Vò rồi sao cho khô giống như cách chế chè hương để pha nước uống của nhân dân. Cho nên ta có thể dùng chè (hương hay chè tàu) làm thuốc.
Không dùng chè đen hay chè mạn là những loại chè đã cho lên men rổi mới phơi hay sấy khô.
()(*)()Trong lá có chứa tới 20% tamin là một chất có tác dụng làm săn da, sát khuẩn mạnh. Ngoài ra còn cafein với tỷ lệ 1,5-5%, một sổ vitamin B|(B2 và c.
Đặc biệt tanin trong chè có tác dụng như một vitamin p vì đày là hỗn hợp của các catechin và dẫn xuất của catechin có cấu trúc hóa học của vitamin p.
()(*)()Chè được dùng pha nước uống, làm thuoc kích thích do caíein và chữa lỵ theo như đơn sau đây:
Chè hương lOOg
Cam ihảo lOg
Nước vừa đủ lOOml
Cách chế: Lấy chè và cam thảo đỏ nước vào cho ngập. Đun sôi ưong nửa giờ, lọc. Bã còn lại thêm nước cho xâm xấp và đun sôi trong nửa giờ nữa. Lọc. Hợp cả hai nước lại. Cô đặc cho đến khi còn đúng lOOml. Thêm natri benzôat
0, 30g hoặc cho thêm 0,03g nipagin vào để bảo quản.
Có thể không cho cam thảo hoặc natri benzôat hay nipagin cũng được, nhưng không ngọt và không để láu đươc.
Ngày dùng 4 lần, mỗi lần 5-10ml. Mỗi lần điều trị cẩn 3 đến 5 ngày.
Đối với người không chịu được nước chè, có thể chế thành dung dịch 10% rổi thụt giữ như sau:
Lấy lOg nước chè, sắc trong nửa giờ, rổi lọc. Mỗi ngày thụt 1-2 lần, mỗi lần lOOml.
Đơn thuốc này thường chỉ áp dụng đối với người lớn. Một số người có thể mất ngủ do tác dụng của cafein. Do đó nên uống hay thụt vào sáng hoặc trưa.
Đơn thuốc này đã được áp dụng có kết quả ở một số bệnh viện Trung Quốc và Việt Nam (Nà Sản) để điểu trị các trường hợp lỵ do trùng Shiga.
()()()£fâ)ỈL ()()()
Tức là vỏ quả cây thạch lựu Perìcarpium granati (đã nói ở trèn - mục thuốc trị giun sán).
()(*)()Trong vỏ quả lựu chứa chừng 28% chất tanín và chất màu.
Các chất này có tính chất làm săn da và sát khuẩn mạnh.
()(*)()Ngày dùng 15-20g (hoặc hơn) dưới dạng
thuốc sắc vổi nước. Có thể cho thêm đường và tinh dầu thơm (như tính dầu chanh, cam, cho dễ uống).
Thời gian điều trị 7 đến 10 ngày.
Có thể pha để lâu như sau:
()()()2000g()()()Nước vừa đủ
Sacarin hoặc đường cho vừa đủ ngọt.
Rửa sạch vỏ lựu, cắt nhỏ cho vào nồi đất hoặc nồi sành hay nổi nhôm, nồi đồng (tuyệt đối
không dùng nồi sắt, nồi gang hay nổi tôn vì chất sắt sẽ hợp với chất tanin vỏ quả lựu để cho tanat sất đen bẩn). Thêm 10 lít nước. Đun sôi và giữ nước sôi trong nửa giờ. Gạn nước này ra. Cho thêm 5 lít nước nữa và cũng đun sôi trong nửa giò rồi lọc. Hợp cả hai lần nước sắc lại. Cô đặc còn 4 lít. Thêm 2g sacarin hoặc đường vào cho đủ ngọt và ít tinh dầu thơm (vò chanh, vỏ cam) cho thơm.
Người lớn: Ngày uống 4 lần, mỗi lần 2 đến 3 thìa cà phê thuốc trên. Uống luôn 7 đến 10 ngày thường đủ khỏi hẳn.
Tại một bệnh viện Trung Quốc người ta đã dùng thử nước sắc vỏ quả lựu, điều trị so sánh với lối chữa bằng rau sam, lá chè, becbérin (chất lấy ở cây hoàng lièn) v.v… người ta đã đi tới kết luân rằng vỏ quả lựu có tác dụng tốt hơn.
Mùa thu hoạch vỏ quả lựu: Mùa hè.
()(*)()
Hoàng liên (Coptis - Rhizoma Coptidis) là thân rẽ phơi khô của nhiều loài hoàng liên chân gà như Coptis quinquesecta, Coptis sìnensis Franch, Coptis tceta Wall., Coptis teetoides c. Y. Cheng v.v… đều thuộc họ Mao lương Ranunculaceae.
()(*)()Hoàng liên là một loại cây cỏ nhỏ, sống lâu năm, cao độ 20-35cm. Lá mọc so le từ thân rễ, có cuống đài. Phiến lá gồm 3-5 lá chét. Mỗi lá chét lại chia thành nhiều thùy, mép có răng cưa to. Đầu mùa xuân sinh trục mang hoa dài chừng
lOcm. Đầu trục có 3-4 hoa màu trắng, nhiểu lá noãn rời nhau (Hình 130, 131).
()(*)()Cây hoàng liên mọc hoang ở các vùng núi cao ‘1.500-2.000m tại Lào Cai (Sapa), dãy núi Hoàng Liên Sơn, khu Tây Bắc. Tuy nhiên chưa đủ nhu cầu dùng trong nước và xuất khẩu.
Muốn trồng hoàng liên, chọn các quả già nhưng chưa nứt vỏ. Hái quả về phơi, khi vò nứt, sẽ chọn các hạt mập, chắc, có hạt phải tranh thủ gieo ngay, để lấu sẽ mất khả năng mọc. Nếu chưa gieo ngay phải lấy đất lẫn cát ẩm trộn với hạt. Trong vòng một tháng phải trổng, để lâu không mọc nữa.
Gieo hạt vào tháng 4-5. Đất gieo phải ở sườn
núi cao 1.200-2.000m. Làm đất thật nhỏ, nhặt sạch cỏ. Luống đánh cao 10-15cm, dài 2m. Rắc hạt như gieo hạt rau, 1 kilôgam hạt giống cho chừng 10 vạn cây con. Khi mọc mầm thì rắc phân mục hoặc tro bếp (không dùng phân người), lkg hạt cần độ 300kg phân. Khi cây đã có 3 lá thì tỉa bớt chỉ để cách nhau độ 3-4cm một cây.
Khi cây đã có 5-6 lá thì sẽ nhổ lên trổng cố định tại nơi khác.
Đất trồng cố định cũng phải ở trẽn cao 1.200- 2.000m có cây to che mát, nếu không có phải làm dàn che cao độ 1,80m. Mỗi héc ta trồng chừng hơn 8 vạn cây. Hằng nâm làm cỏ. Bón bằng phân chuồng và phân xanh.
Sau 5 năm bắt đầu có thể thu hoạch, cần thu hoạch vào thu đông, nếu để sang xuân chất lượng sẽ kém. Hoàng liên hái về, rửa sạch, phơi hay sấy khô là được.
c. ()(*)()Trong hoàng liên có chừng 7% ancaloit toàn phẩn trong đó chủ yếu là chất becbérin
()(*)()Ngoài ra còn có chất panmatin C2|H₂₃N₀₅. coptisin C[5H)5N05, worenin C2|H₁SN₀₄, columbamin C₂₀H₂₀NO₄ (OH).
hoàng liên có tác dụng đối với trùng Staphỵloccus aureus với Streptococ hemolytique, trực trùng ho gà, thương hàn, phó thương hàn, lỵ, lao v.v…
Áp dụng ưên lâm sàng, tác dụng của hoàng liên so với Streptomyxin và cloromyxetin thì mạnh hơn nhưng nếu dùng làu có thể đưa đến hiện tựợng quen thuốc, nhưng kháng hoàng liên thì không kháng streptomyxin và cloromyxetin hoặc ngược lại.
- Không có tác dụng đối với trùng sớt rét nhưng tác dụng rõ rệt với trùng Leishmania tropica và Leishmania espundia {gầy ra các bệnh mụn bouton d’orient và leishmaniose bresilienne).
Đối với tiêu hóa: Chắt becberin tăng tạm thời trương lực (tonus) và sự co bóp của ruột. Hoàng liên có tác dụng giúp sự tiêu hóa, chữa viêm dạ dày và ruột, chữa lỵ.
’ Độ độc: Becberin ít độc: 0,lg cho 1 kg thán thể. Bài tiết rất mau, một phần qua nước tiểu, một phần phá hủy trong cơ thể.
Đối với hô hấp: Liều nhỏ kích thích sự hô hấp, liều cao làm cho hô hấp kém có thể đi tới ngạt do tê liệt trung tâm hô hấp, tim vẫn tiếp tục đập.
\
ch2
()(*)()Tác dụng chống Ví trùng
1 . D.v. Lebedev đã thí nghiệm và chứng minh
Đối với tim và tuần hoàn: Tác dụng giảm huyết áp và xỉu đối với hệ tím mạch.
D. Còng dụng và liều dùng lên đâu, đi tả cấm dùng.
Tính vị theo đông y: Vị đắng, tính hàn, vào 5 Tán bột chế thành thuộc viên 0,50g
kình: tâm, can, đởm, vị và đại trường. Tác dụng Chữa lỵ: Cả lỵ amip và lỵ khuẩn đểu có tác
tả hỏa, táo thấp, giải độc, chữa sốt, tả lỵ, tâm dụng. Ngày uống 3-6g chia làm 3 lẳn uống,
phiền, nôn ra máu, tiêu khát, đau mắt đỏ, loét Thời gian điều trị 7-15 ngày. Nếu lỵ có sốt, sau
miệng, ngộ độc do ba đậu, khinh phấn. Bệnh 2,3 ngày đẩu giảm sốt, sau 5 ngày phán hết
nhân huyết ít, khí hư, tùy vị hư nhược, trẻ con trùng lỵ.