Còn gọi là lá dứa thơm, cây cơm nếp.
Tên khoa học là Pandanus amaryllifolia Roxb. (Panadanus odorus Ridl).
Thuộc họ Dứa gai Pandanaceae.
A. Mô tả cây
Cây mọc thành bụi, có thể cao 1m, đường kính thân 1-3cm, phân nhánh. Lá hình mũi mác, nhẵn, xếp thành hình máng, dài 40-50cm, rộng 3-4 cm, mép không gai, mặt dưới có màu nhạt, có nhiều gân cách nhau 1mm, mùi thơm như mùi cơm nếp. Để khô càng thơm hơn.
Chưa thấy cây ra hoa (Hình 684).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 684. Cây lá dứa - Pandanus amaryllifolia
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang dại và được trồng đặc biệt tại các tỉnh phía Nam để lấy lá tươi hay khô cho vào thức ăn như bánh, kẹo, rượu… Tại các chợ của thành phố Hồ Chí Minh người ta thường bó thành từng bó gồm từ 7-10 lá, nhiều bó nhỏ bó lại thành bó lớn. Gẩn như thu hái quanh năm.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Chỉ mới biết trong lá tươi hay khô (càng khô càng thơm) có một chất thơm bền mùi, chịu được nhiệt.
D. Công dụng và liều dùng
Chỉ mới thấy nhân dân, đặc biệt nhân dân các tỉnh phía Nam, dùng làn thơm kẹo bánh. Chua hề thấy ai nói gặp hiện tượng ngộ độc do dùng lá dứa này để làm thơm thức ăn.
DÂM DƯƠNG HOẮC 淫羊藿
Dâm hương hoắc (Herba Epimedii) là toàn cây phơi hay sấy khô của nhiều loài cây thuốc chi Epimedium như dâm dương hoắc lá to- Epimedium macranthum Morr-et Decne, dâm dương hoắc lá mắc-Epimedium sagittatum (Sieb, et Zucc.) Maxim. (E. sinense Sieb. ex Hance) hoặc cây dâm dương hoặc lá hình tim-Epimedium brevicornu Maxim, đều thuộc họ Hoàng liên gai Berberidaceae.
Tên dâm dương hoắc là vì cây cho lá dê hay ăn mà lại có tính chất làm tăng ham dâm dục.
A. Mô tả cây
Cả ba cây dâm dương hoắc đều là những cây sống lâu năm, cây dâm dương hoắc lá to và dâm dương hoắc lá hình tim cao hơn, đặt 30- 40cm, còn cây dâm dương hoắc lá mác hơi thấp hơn 30-35cm. Lá dâm dương hoắc lá to và dâm dương hoắc lá mác dài 4-9cm, còn lá dâm dương hoắc lá hình tim chỉ dài 2,5 đến 5cm, những chi tiết khác có thể tóm tắt trong bảng sau đây:
- Phiến lá to, dài 4-9cm, hoa hợp thành chùm, cuống hoa không có lông tiết.
a. Lá 2 lần kép với 3 lá chét, hoa to, đường kính 20mm, mỗi cụm hoa gồm 4-6 hoa, tràng có cựa dài … Epimedium macranthum (Hình 685, Hm 52,4).
[]
b. Lá một lần kép với 3 lá chét, hoa hơi nhỏ, đường kính 6-8mm, cụm hoa gồm nhiều hoa, tràng có cựa ngắn hay như không có cựa … Epimedium sagittatum.
- Phiến lá nhỏ, dài 2,5-5cm, cụm hoa hợp thành tán tụ, cuống hoa có lông tiết rõ … Epimedium brevicornu.
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cả ba cây dâm dương hoắc hiện chưa thấy có ở nước ta, toàn bộ vị dâm dương hoặc hiện còn phải nhập của Trung Quốc. Tuy nhiên căn cứ vào sự phân bố của cây này tại một số tỉnh miền nam Trung Quốc như Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (dâm dương hoắc lá to), Vân Nam (dâm dương hoắc lá mác), Quảng Tây (dâm dương hoắc lá hình tim) chúng ta có thể đặt vấn đề phát hiện những cây này ở một số tỉnh biên giới phía bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Vào mùa hạ và thu, hái lấy toàn bộ cây, cắt bỏ rễ, mang về rửa sạch, phơi hay sấy khô. Không phải chế biến gì đặc biệt.
C. Thành phần hóa học
Trong thân và lá có flavonozit gọi là icariin C₃₃H₄₂O₁₆. Khi thủy phân sẽ cho icaritin C₂₁H₂₂O₇.
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0922.jpg]
Incarriin
Trong thân rễ chứa desoxymetylicariin và magnoflorin C₂₀H₂₄O₄N.
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0923.jpg]
Magnoflorrin
Trong lá còn chứa tinh dầu, ancola xerylic, heptriacontan, phytosterla và một chất flavonozit C₂₇H₃₂O₁₂ có độ chảy 273,4°C thủy phân cho glucoza và flavon C₂₁H₂₀O₆.
Theo sự nghiẻn cứu của hệ dược Viện y học Bắc Kinh (1958) thì trong dâm dương hoắc lá to có 1,97% saponozit, trong dâm dương hoắc lá mác có 2,58% saponozit và một ít ancaloit, nhưng các tác giả không thấy cho phản ứng flavonozit.
D. Tác dụng dược lý
Liều thấp và liều cao dâm dương hoắc lá to đều có tác dụng hạ huyết áp, với liều nhỏ có tác dụng xúc tiến bài tiết nước tiểu nhưng với liều lớn lại có tác dụng ức chế.
E. Công dụng và liều dùng
Dâm dương hoắc còn mới được dùng trong phạm vi nhân dân, dựa vào nhận xét con dê thích ăn và có tác dụng kích thích tính dâm dục.
Theo tài liệu cổ, dâm dương hoắc có vị cay, tính ôn, vào hai kinh can và thận, có tác dụng bổ can thận mạnh gân cốt, trợ dương ích tinh, khứ phong thắng thấp, thường dùng làm thuốc bổ can thận, mạnh gân cốt, chống liệt dương, lưng gối mỏi đau, chân tay bải hoải.
Thường dùng làm thuốc bổ thận, giúp sự giao cấu, chữa liệt dương, ít tinh dịch với liều 4 đến 12g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.
Khi dùng người ta thường chế dâm dương hoắc với mỡ dê như sau: Dâm dương hoắc 1kg, mỡ dê 250g. Đem đun mỡ dê cho nóng chảy nước, gạn bỏ bã (tóp mỡ), cho dâm dương hoắc thái nhỏ vào, đảo cho thấm hết mỡ dê vào sao khô mà dùng.
Đơn thuốc có dâm dương hoắc
Chữa liệt dương: Dâm dương hoắc 8g, sinh khương 2g, cam thảo 1g, nước 600ml. Sắc còn 200ml chia ba lần uống trong ngày.
DÂU RƯỢU 杨梅
Còn gọi là dâu tiên (Quảng Bình-Vĩnh Linh), giang mai, thanh mai (Trung Quốc), ko mak ngam, kom gam (Lào).
Tên khoa học Myrica rubra Sieb. et Zucc.
Thuộc họ Dâu rượu Myricaceae.
Tên thanh mai thường chỉ thấy ghi trong một số sách thực vật, có lẽ dựa theo tên Trung Quốc của cây. Trên thực tế điều tra trong nước, chúng tôi hầu như chưa thấy nơi nào nhân dân gọi cây này là cây thanh mai, mà thường chỉ gọi là cây dâu, cây dâu rượu hay cây dâu tiên. Cho nên chúng tôi chọn tên này là chính. Tên họ do đó cũng đổi lại là họ Dâu rượu.
A. Mô tả cây
Cây nhỏ cao 0,4-0,5m nhưng cũng có thể cao tới 10m. Thường xuyên tại những đồi núi chỉ thấy cao 40-50cm. Cành nhỏ thường có phủ lông tơ. Lá xanh tươi quanh năm, khi còn non hay ở những cành non thì có phiến lá to, hơi mềm, nhưng trên những cành già phiến lá nhỏ hơn và dai cứng. Phiến lá to dài 5-12cm, rộng 2-3cm, phiến lá nhỏ chỉ dài 2-3cm, rộng 8-10cm. Mép phiến lá non có răng cưa rõ, phiến lá già răng cưa không rõ. Cuống không rõ hoặc rất ngắn, dài 2-10mm. Hoa khác gốc: Hoa đực gầy, thưa hoa, hoa cái mọc thành hình đuôi sóc dài 1- 5cm. Quả đường kính 5mm đến 1cm khi xanh có màu xanh, khi chín màu đỏ tím, trên mặt rất nhiều gợn thoạt trông giống như quả kép của quả dâu tằm (có lẽ vì vậy mà nhân dân gọi là quả dâu). Hạch dày nước và cứng, mọng nước, màu tím đỏ rất đẹp. Mùa hoa: tháng 10 - 11, mùa quả 11-1 (Hình 686).
[]
TODO: thêm hình ảnh
Hình 686. Dâu rượu - Myrica rubra
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mọc hoang tại nhiều tỉnh ở miền Bắc nước ta, nhiều nhất tại một số tỉnh miền Trung như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Vĩnh Linh, vùng Langbiang. Nhưng thường chỉ thấy ở Quảng Bình nhân dân khai thác dùng trong nước và xuất khẩu.
Còn thấy mọc ở Ấn Độ, Malaixia, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản.
Vào mùa quả chín (tháng 12-3) ở Quảng Bình nhân dân thu hái về (đặt nón vào phía dưới cây, tuốt quả cho rụng vào nón) phơi khô, sau đó đem đồ cho chín rồi phơi khô lại. Đồ như vậy để được lâu không bị mọt.
C. Thành phần hóa học
Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ nghiên cứu thấy trong quả xanh có axit hữu cơ, tanin, vitamin C, trong quả chín có đường, sắc tố anthoxyan.
Vỏ cây chứa myrixetin C₁₅H₁₀O₈, myrixitrin C₂₁H₂₀O₁₂ (Lưu Mê Đạt Phu và cộng sự-Hòa hán dược dụng thực vật 1959, 353) và 11% tanin (Trung dược chí 1961, 1295, 1055)
Quả chứa 7-10% đường, 0,5-1% axit hữu cơ và rất ít myrixetin (Lưu Mê Đạt Phu-như trên)
[C:\Users\hoa dung\AppData\Local\Microsoft\Windows\Temporary Internet Files\Content.Word\0924.jpg]
Myrixetin R=H
Myrixitrin = R = rhamnoza
D. Công dụng và liều dùng
Dâu rượu được thấy ghi dùng làm thuốc đầu tiên trong “Khai Tống bản thào’’ sau đến “Bản thảo cương mục” với tên giang mai.
Trong tài liệu cổ ghi giang mai có vị chua, ngọt, tính bình, có tác dụng lý khí, tán ứ, thanh thấp nhiệt.
Toàn năm có thể thu lấy vỏ rễ hay vỏ thân, dùng tươi hay khô. Vào mùa hạ thu lấy quả phơi khô. Chữa đau bụng, lỵ. Ngày dùng 8-12g vỏ khô sắc với nước uống trong ngày. Còn dùng chữa lở ngứa: Dùng vỏ thân hay vỏ rễ sắc nước rửa nơi lở ngứa.
Trong nước ta cho đến nay thấy ít được dùng làm thuốc. Thường đến mùa quả chín, trẻ con hái ăn hoặc bán để chế rượu uống: Quả chín hái về rửa sạch, cho thêm ít đường, thêm ít men rượu vào để trong vài ngày men rượu chuyển đường trong quả và đường thêm vào thành rượu, rượu này hòa tan các chất trong quả trong đó có các sắc tố anthoxyan làm cho rượu có màu tím đỏ đẹp, vị hơi chua và ngọt trông như rượu vang. Có khi người ta mua quả về cho thêm rượu vào ngâm. Cũng có khi chế thành mứt.
Trước cách mạng Tháng Tám, Quảng Bình khai thác quả chín phơi khô rồi xuất sang Trung Quốc hoặc đưa vào Sài Gòn-Chợ Lớn, tại đây người ta chế thành mứt hay thành rượu gọi là rượu Giang mai. Ngay tại Quảng Bình người ta chế thành rượu với tên rượu dâu dùng tại chỗ hay xuất khẩu.
Tại Trung Quốc người ta dùng quả chữa ho, chữa đau dạ dày. Còn dùng chữa ỉa chảy, lỵ.
Hạt được dùng chữa mồ hôi chân nhiều quá, vỏ thân và vỏ rễ dùng dưới dạng sắc để chữa vết loét ngoài da, hoặc ngộ độc do thạch tín.
Tại Ấn Độ, Nhật Bản người ta dùng những cây to để làm nguyên liệu tanin, nhuộm màu vàng, duốc cá.
Xem vậy chúng ta chưa chú ý tận dụng các bộ phận của cây này. Như trên đã nói chỉ mới thấy ở Quảng Bình người ta thu mua một số rất ít quả chín để dùng trong nước và xuất khẩu.
Cần chú ý sử dụng tốt hơn một tài nguyên rất sẵn ở nước ta, đặc biệt ở Quảng Bình và Vĩnh Linh.
Chú thích về tên khoa học:
Theo những tài liệu cũ thì tên khoa học của cây này là Mirica sapida Wall., nhưng đối chiếu với những cây chúng tôi thu được mẫu vật ở Quảng Bình thì thấy nhiều phần thuộc loài Myrica rubra hơn. Cần chú ý kiểm tra lại.
ĐẠI TÁO 大棗
Còn gọi là táo tàu; táo đen, táo đỏ.
Tên khoa học Zizyphus sativa Mill.
Thuộc họ Táo Rhamnaceae.
Đại táo (Pructus Zizyphi) là quả chín phơi hay sấy khô của cây táo tàu. Đại táo cho tới nay còn hoàn toàn phải nhập.
A. Mô tả cây
Đại táo là một cây nhỡ hay cây to, có thể cao tới 10m. Lá mọc so le, lá kèm thường có dạng thành gai. Cuống lá ngắn 0,5-1cm, phiến lá hình trứng, đầu hẹp lại, dài 3-7cm, rộng 2-3,5cm, mép có răng cưa thô, trên mặt rõ 3 gân chính, gân phụ cũng nổi rõ. Hoa nhỏ, mọc thành tán ở kẽ lá, mỗi tán gồm 7-8 hoa. Cánh hoa màu vàng xanh nhạt. Đài, tràng và nhị đều 5. Quả hạch hình cầu hay hình trứng, khi non có màu nâu hoặc xanh nhạt, khi chín có màu đỏ sẫm. Vỏ quả mẫm vị ngọt. Mùa hoa tháng 4-5, mùa quả tháng 7-9 (Hình 687).
[]
Hinh 687. Đại táo - Zizyphus sativa
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cho tới nay, đại táo ta dùng vẫn hoàn toàn phải nhập của Trung Quốc. Tại Trung Quốc, đại táo nhiều nhất ở Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, Phúc Kiến, Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam. Mấy năm gần đây, Trung Quốc có giúp ta di thực một số cây táo này. Đang thí nghiệm.
Vào tháng 9, quả chín hái về phơi hay sấy khô là được. Thường chọn những quả mẫm, hạch nhỏ, vị ngọt, màu đỏ được coi là tốt.
C. Thành phần hóa học
Trong đại táo có 3,3% protit, 0,4% chất béo, 73% hydrat cacbon, 0,061% canxi, 0,055% photpho, 0,0016% sắt, 0,00015% caroten, 0,012% vitamin C (theo Bảng thành phần thực vật của Viện nghiên cứu vệ sinh Trung ương- Trung Quốc, 1957).
D. Công dụng và liều dùng
Đại táo là một vị thuốc rất phổ biến trong các đơn thuốc.
Theo tài liệu cổ đại táo vị ngọt, tính ôn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng bổ tỳ, ích khí, dưỡng vị sinh tân dịch, điều hoa doanh vệ, hòa giải các vị thuốc khác. Dùng chữa tỳ hư sinh tiết tả, các bệnh do đoanh vệ không đều hòa. Phàm đau răng, đờm, nhiệt, trung mãn (trong đầy) không nên dùng.
Thường dùng hiện nay trong hầu hết các đơn thuốc, mỗi ngày cho uống từ 5 đến 10 quả làm thuốc bổ tỳ vị, nhuận phế, chữa ho, điều hòa khí huyết.
Đơn thuốc có đại táo
Chữa sau khi sốt khỏi, miệng khô, cổ đau, hay ngủ: Đại táo 20 quả, ô mai 10 quả, hai thứ giã nát, nhào mật mà ngậm trong nhiều ngày.
Phụ nữ có thai hay đau bụng: Đại táo 14 quả đốt ra than cho uống.
Trẻ con cam tẩu mã: Đại táo 1 quả, hoàng bá 6g. Hai vị đốt ra than. Tán nhỏ. Sát vào răng.
Bình luận