Còn gọi là houblon, hương bia, hoa bìa. Tên khoa học Humuỉus lupulus L. Thuộc họ Gai mèo Cannabinaceae.

A. Mô tả cây

Đây là một loại dây mọc leo, sống dai, khác gốc, thân mọc cuốn, có lông cứng. Lá mọc đối, có cuống, gốc hình tim, có 3-5 thùy chân vịt, mép có răng cưa. Hoa màu lục nhạt. Hoa đực tập hợp thành chùy thưa, mọc ở kẽ lá, hoa cái họp thành nón, nhiều nón họp thành chùm ở đầu cành. Mỗi nón hình trứng gốm rất nhiều lá bẳc dạng lá, màu vàng nhạt và mỏng khi chín, cái nọ phủ lên cái kia. Ở nách mỗi nón có hai hoa cái, sau khi thụ phấn sẽ cho một quả bế nhỏ (Hình 314).

B. Phản bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang đại và được trồng ỏ các nước ôn đới, ẩm thâp châu Âu và châu Mỹ (Pháp, Séc, Đức …) để lấy hoa cá ị chế bia. Khi trồng thường người ta loại bỏ những gốc cây đực để tránh thụ phấn với những hoa cái tạo nhũng quả bế làm giảm mùi thơm của hoa. Ở nước ta, mấy năm gán đây mới nhập nội loại cây này về trồng thi nghiệm ở Mộc Châu, Hà Giang, Bắc Ninh và Đà Lạt để lấy hoa cái chế rượu bia. Vào mùa hoa (tháng 6-7) người ta thu hái những nón hoa cái chín, sấy khô ở nhiệt độ dưới 60°. Càng để lầu mùi thơm càng tăng.

Ngoài hoa cái, người ta còn dùng lông tiết phủ trên lá bắc (chiếm 10 đến 12% trọng lượng cụm hoa cái) với tên lupulin. Muốn chế lupulín, người ta đập hoa cái, lông tiêt sẽ rụng ra dưới dạng bột màu nâu đỏ nhạt, rất dễ vón vào nhau, không bị nước làm ướt. Mùi rất hăng. Vị đấng. Khi soi kính hiển vi, ta sẽ thấy những lông có kích thưỏe 150- 250^, chân ngắn gồm nhiều tế bào, với phần trên xếp thành bình cốc gồm một dãy tế bào tiết có lớp cutin bị nhựa dầu tiết ra làm dãn ra.

C. Thành phần hóa học

Nhũng nón hoa cái chóa khoảng 10% nước, 8% chất vô cơ,.các chất lipit, sáp, một ít tanin, sắc tố ílavon, chất xanthohumola (là một chalcon), các glucozit của quexetola và kaempferola. Các amín (trimetylamin) và cholin cũng đã được phát hiện .

Người ta cho rằng hoạt chất của nón hoa cái hublông là nhựa dầu (oleoresin) gồm: 0,50% tinh dẫu với thành phần gồm các cacbua tecpenic: myxen, humulen, canaben và một este valeri- anic của bocneola.

10 đến 15% chất nhựa (resine) chứa những hợp chất đắng xeton với những gốc OH phenola (làm cho trước đây người ta tưởng lầm là axit): lupulon, (axit (3-lupulìnic) kèm theo những chất gần giống với nhũng chuỗi đính khác nhau, rất dẻ đổng phân hóa trong quá trình bảo quản. Những năm gần đây ngưcri ta đã phát hiện thấy các hợp chất trixeton có vòng năm cạnh: humulinon và hulupon.

D. Công dụng và liều dùng

Về mặt y dược hoa hublông được đùng từ lâu đời làm thuốc giúp sự tiêu hóa, thuổc bổ đắng (dưới dạng thuốc hãm 10%). Người ta cho rằng hoa hublông có tác dụng gây động đục (oestrogène). Chất lupulin (lông tiết) được dùng làm thuốc giảm đau, thuốc dịu dục (bột dùng với liều 0,20g đến lg, cao dùng với liều 0,1 Og đến 0,50g). Vói liều cao có thể gây nhức đầu và buồn nôn.

Năm 1952, Erdman đã chứng minh tác dụng chống khuẩn của humulon lupulom và nhất là dẫn xuất hydrogen hóa của lupulon đối với các vi trùng Gram dương và vi trùng lao.

Trong công nghiệp bia: Công dụng lớn nhất của hoa hublông là trong công nghiệp chế bia: Trước khi cho lên men nước sắc mầm lúa mạch người ta thêm hoa hublông vào. Nguời ta cho rằng hoa hublông làm cho bia có mùi thơm, vị đắng và giúp bảo quản bia lâu hỏng.

Chú thích:

Nếu cây hoa hublông là một cây mới di thực thì ở trong nước ta vốn có mọc hoang dại một cây thuộc cùng chi tên là cây sàn sạt hay Leo dây tên khoa học là Humulus japonicus Sieb. et Zucc, (Antìdesma scandens Lour.) thuộc cùng họ Gai mèo {Cannabinaceae). Đáy là một loại dây leo thân có rãnh dọc, lá mọc đối, lá phía trên so le, phiến xẻ 5 thùy hình chần vịt, rộng 8cm, rất nhiều lông, mép có răng cưa. Hoa khác gốc, hoa đực mọc ở kẽ lá, thành chùy hình tháp, hoa cái thành hình xim co gần hình cầu. Hoa không cuống, mọc ở nách một lá bắc đính với một M bắc con giông như mộí đài. Hoa đực có 5 lá đài có lông rải rác ở phán lưng. Nhị 5, chỉ nhị rất ngắn, bao phấn rời hình 4 cạnh. Hoa cái trần quả bế, màu vàng nhạt.

Hoa nở vào tháng 7-8. Cây mọc hoang dại ỏ’ khắp

TODO: thêm hình ảnh

Hình 315. Sàn sạt - Hưmulus japonicus

nơi. Trâu bò rất thích ăn. Hoa cái không thấy có lông tiết cho nên không thấy thơm và không dùng chế bia được. Lá sàn sạt có 0,05% luteolin-7D-glucozit C3)HMOn.l/2 H20; 0,015% cosmosiin C₂₁HJ₀Ol₀; 0,005% vitexin Q|H₂₀Ol₀. (Dược học tạp chí-Nhật, 1962, 82, 1331), ngoài ra còn ít tinh dầu, tanin. Hạt chứa 27,9% chất béo cTrung dược chi, 1961, 719, 1647). Nhàn dân dùng lá khô sắc uống chữa lỵ, sốt, khát nuớc. Có thể dùng lá tuơi. Ngày dùng 10-16g lá khô (Hình 315).