Còn gọi lủ cây hạt bí, qua tử kim.
Tên khoa học Dischidia acumỉnata Cost.
Thuộc họ Thiên lý Asclepìadaceae.
A. Mò tả cây
Cây tai chuột là một loại cây leo nhỏ, phụ sinh (épiphyte), nhẵn, có những rễ mọc bám vào các cây khác, hoặc trên đá vôi. Lá mẫm, màu xanh lục nhạt, trông như hữi mốc do có lông mịn. Phiến lá hình thuôn dài, đầu hơi nhọn, phía cuống cũng hẹp và hơi nhọn, trông hơi giông hạt bí (do đó có tên cây hạt bí), hoặc hơi giống tai con chuột, dài 14-24mm, rộng 8-14mm,
cuống dài 4-6mm. Hoa giống hình nhạc (Hình 184).
B. Phân bổ thu hái và chê biến
Mọc phổ biến ở khắp nơi trong nước ta. Dùng toàn cây tươi hay phơi khô. Thường dùng tươi hái về sao vàng sắc uống, c. Thành phần hóa học Chưa thấy có tài liệu nghiÊn cứu.
D. Cóng dụng và liều dùng
Còn là một vị thuớc dùng trong phạm vi nhàn dân. Người ta thường dùng để làm một vị thuốc mát có tác dụng thông tiểu tiện, chữa nhũng trường hợp viêm ống tiểu tiện, bạch đới.
Liều dùng hằng ngày 20-30g dưới dạng thuốc sắc.
THẠCH Vĩ £J
Còn gọi là thạch bì, thạch lan, phi đao kiếm, kim tinh thảo.
Tên khoa học pyrrhosia ỉingua (Thunb.) Farwelỉ, (Cvclophorus ỉingua Desv., Poỉypodium ìingua Siv.).
Thuộc họ Dương xỉ Poỉypodiaceae.
A. Mỏ tả cây
Cây ihạch vĩ là một loại duơng xỉ nhỏ, có thân ‘,rể nằm ngang, đài tới 0,50m, dày vào khoảng 4mm, có nhiều nhánh phán chia theo lối đơn lúc. Trên thân rễ có nhiểu vẩy to, ở mặt dưới từng quãng có nhiếu rê hình sợi, phân nhánh mọc đôi. Lá có hai loại: Lá bất thụ và lá hữu thụ. Lá hữu thụ có cuống dài tới 9cm, phiến lá hình lưỡi mác rộng, dài ll-]3cm, rộng 2-3cm, Mặt trên nhẩn màu xanh lục, mật dưới màu nâu nhạt có nhiều ổ lử nang phủ khắp trừ trên gân giữa. Nhìn qua kính hiển vi, ta sẽ thấy ổ tử nang cấu tạo bởi một đám tử nang phân cách nhau bởi nhữns tông hình sao có cuổng dàì. Các lá Dắt thụ có cuống ngắn hơn, độ 5cm, với phiến lá hình trái xoan hơi hình mác, dài khoảng 9-1 lcm, rộng 3-4cm. Mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới màu lục nâu, gân lá hình lông chim. Cả hai mặt đếu nhẵn (Hình 185).
B. Phân bó, thu hái, và chê biến
Cây thạch vĩ mọc hoang ở khấp nơi trong nước ta; thường hay gập mọc bám trên các cây to hoặc trên các bức tường cũ nát. Còn thấy mọc cả ở Trung Quốc (Phúc Kiến, Đài Loan, Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Hoa Nam), Nhật Bản.
Người ta dùng lá, toàn cây hay thân rễ tươi hay phơi khô. Có thể thu hái quanh năm.
C. Thành phần hóa học
Sơ bộ nghiên cứu vị thuốc, thấy có phy-
TODO: thêm hình ảnh
Hình 185. Thạch vĩ - Pyrrhosia lingua
tosterol, tanin thuộc loại pyrocatechic, những đường khử ôxy, các chất béo và các chất vô cơ (G. Herman, 1. Ciulei và Vũ Văn Chuyên,
1960).
D. Tác dụng dược lý
Tác dụng trên giun đất. Lấy 350g cây, dùng ête êtilic lấy kiệt trong máy soxhlet. Bốc hơi chỗ êtê, sẽ được chùng 13g cao. Chất cao này không có tác dụng trên giun đất. Bã còn lại sau khi chiết bằng ête, được chiết lại bằng cồn 90“, rồi bốc hơi rượu sẽ được 14g cao mềm. Hòa tan cao này trong nước cất. Dùng dịch cao này trong nước với nồng độ 5% thủ trên giun đất, làm giun chết sau 45 phút.
Phòng thí nghiệm ký sinh trùng thuộc Trường
đại học y khoa Hà Nội (1960) có thử tác dụng trên nhiều loại ký sinh trùng khác nhau, thì thấy có tác dụng rõ rệt đối vói sán lá ruột (Fasciol- opsis buski): Ký sinh trùng chết 15 phút sau khi cho thuốc.
E. Còng dụng và liều dùng
Tính vị theo tài ỉiệu cổ: Vị đắng ngọt, hơi hàn, vào hai kinh phế và bàng quang. Có tác dụng lợi tiểu, thông lâm, thanh thấp nhiệt. Làm thuốc lợi tiểu.
Vị thuốc mới thấy dùng trong phạm vi nhân dàn: Người ta dùng thạch vĩ làm thuốc lợi tiểu tiện, dùng trong trường hợp tiểu tiện ra sỏi, tiểu tiện ra máu, viêm niệu đạo, bàng quang. Còn dùng làm thuốc bổ, thân rễ dùng chữa bệnh than,
Bình luận