long nao % tinh dẩu % long não % tinh dầu %
10 nâm 0 0,016 1,321 0,196
25 năm 0,368 0,302 0,526 0,111
35 nãm 0,346 0,345 0,500 0,267
45 năm 2,754 0,668 0,539 0,465
Long não thiên nhiên, có tinh thể màu trắng, mùi thơm đăc biệt, vị nóng, à nhiệt độ thường, long não thăng hoa được, ít tan trong nước, tan nhiều trong các dung môi hữu cơ (cồn, ête, cloroíoc), quay phải + 43°. Tính chất long não là một xeton.
Tinh dầu long não cất phân đoạn sẽ được tinh dầu long não trắng (dùng chế xineola), tinh dầu long não đỏ (chứa saírola, cacvacrola), tinh dầu long não xanh (chứa cadinen, camphoren, azulen).
dầu 5-10%). Dùng trong dưới dạng thuốc tiêm để hồi tỉnh cơ tim, chữa trụy tim hay suy nhược, hoặc dùng uống để chữa đau bụng, làm giảm lượng phân (uống mồi ngày 0,05-0,20g, tiêm da dưới dạng dung dịch đầu 10-20%).
Long não còn dùng trong công nghiệp chế ngà voi nhàn tạo, phím ảnh, chất cách điện.
Tinh dầu long não có thể dùng ngoài x.oa bóp thay long não đặc, hoặc dùng trong công nghiệp làm dung môi, hoà tan nhựa, sơn, chiết saữol, xineol, chế thuốc trừ sâu.
Còn gọi là củ chi, sleng thom, sleng touch (Cãmpuchia), kok toung ka (Lào), vomiquier íausse angusture, mác sèn sứ (Thổ), co bên kho (Thái).
Tên khoa học Strychnos nuxvomica L.
Thuộc họ Mã tiền Loganiaceae.
Tên mã tién dùng để chỉ nhiều cây khác nhau thuộc chi Strychnos cho những hạt giống như chiếc khuy áo lớn, và có chốa những ancaloit có tác dụng mạnh chủ yếu là strycnin và bruxin. Có cây là cây đứng, có cây là dây leo. Nhiều cày leo chưa được xác định tên chắc chán, thường chỉ mới tạm xác định là Slrychnos sp. Có khi cùng một loài nhưng nếu khai thác hạt người ta gọi là củy mã tiền, nếu khai thác vỏ người ta lại gọi là cây hoàng nàn (xem cây này).
Tên Strychnos do chữ Hy lạp có nghĩa là những cây có độc, nux có nghĩa là quả cứng, vomica nghĩa là gây nôn, ý nói Strychnos nux- vomica là một cây có độc, quả cóng gây nôn.
A. Mô tả cây
Như trên đã nói, ở nước ta hiện đang khai thác ít nhất hai loài mã tiền:
ỉ. Cây mã tiền-Strychnos nuxvomica L. là một cây nhỡ, mọc thẳng đứng có vỏ xám, cây non có gai. Lá mọc đối, có lá kèm, cuống ngắn, phiến lá hình bầu dục, hai đầu hơi nhọn, gân lá hình lông chim, nhưng mỗi bên gân chính có một đôi gân phụ chạy dọc theo lá và nổi ở mặt dưới. Hoa nhỏ, màu hồng, họp thành xim hình tán đều, lưỡng tính, tràng và đài có 5 cánh, đài hình phễu với 5 rãng hình ba cạnh, tiền khai hoa hợp, trảng hình ống, hơi phình ở phía dưới, mặt trong có lông, trẽn đỉnh chia 5 thùy, so le với lá đài, trong nụ tiền khai hoa van. 5 nhị đính ở họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn, mang bao phấn có hai ngăn. Bầu có hai lá noãn, vòi đơn, quả mọng hình cầu, to bằng quả cam, có chứa com màu trắng, nhiều hạt hình khuy áo, phôi thẳng đứng, xung quanh có nội nhũ sừng. (Hình 410, Hm 41,4)
- Các loại mã tiền hiện đang được khai thác ờ miẻn Bác nuớc ta hầu hết đều là dây leo, tên khoa học chưa được xác định chắc chắn, chỉ dựa vào hàm lượng ancaloit trong hại mà khai thác và chỉ mới biết đây là một í oài Strychnos sp. Vỏ một loài dây leo này được khai thác với tên hoàng nàn (xem vị này). Mã tiền dây leo có đường kính thân tới 10-15cm, chiều dài thán có thể tơi 30-40m.
B. Phàn bố, thu hái và chê biên
Cây mã tiền Sỉrychnos nux-vomica cho tới nay chỉ mới thấy ở miền Nam nước ta. Trước kháng chiến chống Pháp 1946, hẩu hết mã tiền ở miền Bắc đều từ miền Nam đưa ra. Trong kháng chiến, lần đầu tiên, chúng ta khai thác hạt những dây mã tiền ờ miền Bắc để chiết Lấy strycnin. Hiện nay không những để dùng trong nước mà còn để xuất khẩu nữa. Mã tiền dây leo mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi nước ta: Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Tây, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh, Lào Cai, Yên Bái đều có. Tuy nhiên chưa ai đặt vấn đề nghiên cứu trổng cày mã tiền, cho nèn chưa rõ đ«ều kiện sống và chăm sóc như thê’ nào để cho nhiều hoạt chất nhất. Ngoài Việt nam ra, mã tiền còn mọc ở các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi, châu úc. Trước đây (1925, 1926), mỗi nãm ta xuất đi tới hơn 1.000 tấn hạt, Thường quả chín rơi xuống đất, hạt tung
ra ngoài ta nhặt về phơi khô. Khi dùng thái mỏng, sấy lại lần nữa rồi tán nhỏ.
Trong nhân dân Việt Nam, mã liền chỉ được sử dụng sau khi chế biến theo một trong mấy cách sau đây:
-
Ngâm hạt trong nước vo gạo một ngày đêm cho tới khi mềm, lấy ra bóc vỏ, thái mỏng, sắy khô tán nhỏ.
-
Cho hạt mã tiền vào dầu vừng đun sôi cho tới khi hạt mã tiền nổi lên thì vớt ra ngay (nếu chậm, hạt bị cháy đen, mất tác dụng). Thái nhỏ sấy khô mà dùng.
-
Ngâm hạt mã tiền trong nước thường hay nước vo gạo cho tới mểm. Lấy ra bóc vỏ và lông để riêng, nhân để riêng. Sao vỏ và lông riêng, nhân riêng, rổi tán nhỏ riêng từng thứ. Phương pháp này thường dùng chữa bệnh chó dại.
C. Thành phần hoá học
Trong hạt mã tiền có 15% manan, 85% ga- lactan. 4-5% chất béo, một heterozìt gọi là loganozit hay loganin (1,5%), rất nhiều ancaloit trong đó chủ yếu là strỵcnin, bruxin, kết hợp với axit igasuric (axit clorogenic). Những ancaloit khác thường gặp là vomixin, siruxin, colubrin a và p.
Tỷ lệ ancaloit toàn phần trong mã tiền thay đổi từ 2,5 đến 5,5%, trong đó strycnin chiếm 43-45%. Mã tién dùng làm thuốc phải chứa ít nhất 2 đến 3% ancaỉoit toàn phẩn, trong đó ít nhất 45% phải là strycnin.
D. Tác dụng dược lý
Người ta cho tác dụng của mã tiền là do tác dụng của strycnin.
Đối vói Ịhần kinh trung ương và ngoại vi có tác dụng kích thích với liều nhỏ, và tác dụng co giật với liều cao.
Đối với tim và tuần hòàn có tác dụng tăng huyết áp, đo các mạch máu ngoại vi bị co nhỏ.
Đối với dạ dày và bộ máy ciéu hoá tăng bài tiết dịch vị, tâng tốc độ chuyển của thức ãn sang ruột. Tuy nhiên nếu dùng luôn thì sẽ gây biến loạn tiêu hoá, biến ìoạn co bóp dạ dày.
Độc tính: Mã tiền rất độc. Khi bị ngộ độc, ngáp, nước dãi chảy nhiều, nôn mửa, sợ ánh sáng, mạch nhanh và yếu: Tứ chi cứng đờ, co giật nhẹ rồi đột nhiên có triệu chứng như uốn ván nặng với hiên tượng .rút gân hàm, lồi mắt, đổng tử mở rộng, bắp thịt tứ chi và thân bị co, sự co bắp thịt ngực gây khó thở và ngạt. Sau 5 phút đến 5 giờ chết vì ngạt.
D. Cóng dụng và liều dùng
Mã tiền được dùng cả trong đỏng }’ và tây y. Tầy y dùng làm thuổc kích thích thần kinh trung ương, tăng phàn xạ của tủy, tăng cường kiện và dinh dưỡng của cơ, dùng chữa tê Hệt, tim bị dãn, cơ tim mệt, giảm cường kiện của ruột, đái dầm (vì cơ tròn bọng đái yếu không khép được) và yếu bộ phận sinh dục (strycnìn làm tinh trùng được tống ra mạnh).
Làm nguyên liệu chiết strycnin.
Dạng dùng (rong tây y:
Cỏn mã tiền: Mỗi lần uống 8 đến 10 giọt, tối đa 30 giọt.
Cao mã tiền: Mỗi lần uống 10 đến 15mg, tối đa 50mg. Nitrat strycnin uống mỗi lần nửa đến một miligam (0,0005-0,00lg), hoặc tiêm Iml dung dịch 0,1%.
Trong đông y mã tiển được dùng chữa chẻ và những bệnh ngoài da khó chữa: Tán bột (sao vàng tán nhỏ), trộn với dầu vừng mà bôi Lên nơi ghẻ, nơi lở loét, hủi. Dùng trong, mã tiền được xem như một vị thuốc chữa tê thấp, bại liệt, bán thân bất toại, chó dại cắn. Mã ciển dùng trong đông y phải chế biến như phần phân bô’ tliu hái và chế biến đã giới thiệu. Mỗi ngày uổng chừng 0,1 đến 0,03g %.
Đơn thuốc có mã tiến dùng trong nhãn dán
Thuốc phong bà Gỉầng chữa tê thấp, đau nhức, sưng khớp (Thanh Hoá);
Bột mã tiền chế 50g, bột hương phụ tứ chế 13g, bột mộc hương 8g, bột địa liền 6g, bột thương truật 20g, bột quế chi 3g, tá dược vừa đủ hoàn 1000 viên. Mỗi ngày uống 4 viên, tổi đa 6 đến 8 viên. Theo hướng dẫn uống khi nào thấy giật giật mới có kết quả. Một đợt uống 50 viên thì lại nghỉ.
Kinh nghiêm nhãn dân chữa tê (hấp, đau nhức, sưng khớp.
Cần chú ý thuốc có độc, việc sử dụng phải hết sức thận trọng.
Tên khoa học Chaenomeỉes ỉagenaria (Lois.) Koidz {Cydonia iagenaria Lois.).
Thuộc họ Hoa hổng Rosaceae.
Mộc qua (Fructus Chaenomelis lagenariae) là quả chín phơi hay sấy khô của cây mộc qua (Chaenomeles ỉagenaria).
VỊ thuốc này cho đến nay vẫn còn phải nhập.
A. Mỏ tả cây
Mộc qua là một cây nhỡ cao 2-3m, cành có gai, dài 5-20mm, đường kính phía gốc của gai tới l-3mm, mặt cành có những bì khỏng rõ. Lá có cuống dài 3-]5mm, phiến lá hình mác dài 2,5cm-14cm, rộng 1,5cm-4cm mép có răng cưa, mật trên màu xanh, mặt dưới màu tím nhạt, cả hai mạt đều nhẩn. Lá kèm có hình dạng và kích thước thay đổi, dài từ 2-2,5cm, rộng từ l-1,5cm, mép cũng có răng cưa. Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá. Cánh hoa màu đỏ của hoa đào, có loại hoa trắng hiiy hồng. Cuống hoa rất ngắn. Quả thịt hình cầu hay hình trứng, dài khoảng 8 cm, mặt ngoài nhẵn bóng, màu vàng hay vàng xanh, mùi thơm. Mùa hoa: tháng 3-4, mùa quả: tháng 9-10 (Hình 411).
TODO: thêm hình ảnh
Hình 4ÌỈ. Mộc qua - Chaenomeìes lagenariơ
B. Phân bố, thu hái và chẻ biên
Mộc qua hiện nay còn phải nhập của Trung Quốc, ở đây cây được trổng ở Hà Nam, Giang
Tô, An Huy, Sơn Đông, Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Tứ Xuyên. Xem vậy ta thấy những vùng nước ta giáp giới với tỉnh Quảng Đỏng có thể có khả năng trồng được. Loại mộc qua của Tứ Xuyên nhiều và được xem như tốt nhất. Vào tháng 10-11 quả chín thì hái vể bổ ỉàm 2 hay 4 mảnh, phơi mặt trong quả ngửa lên phía trên, cho đến khi chuyển màu hồng tím là được. Vị thuốc mộc qua là những mảnh quả dài 2,5-9cm, rộng 1,5-3,5cm, dày 2-8mm, mặt ngoài nâu đỏ đến tím đỏ, có những nếp nhăn trong quá trình khô, mặt trong quả còn rõ những ô chứa hạt, phần lớn hạt đã rụng, nhưng đối khi còn sót lại một sò hạt hình 3 cạnh, màu nâu đỏ trong chứa một nhân. VỊ chua, chát, mùi hơi thơm.
c. Thành phẩn hoá học
Trong mộc qua có saponin khoảng 2%, axit hữu cơ, tanìn, và flavonozit {theo hệ dược Viện y học Bấc Kình, 1958).
D. cỏng dụng và liều dùng
Theo tài ìiệu cổ mộc qua có vị chua, chát, tính ôn. Có tác dụng liễm phế, chỉ ho, bình gan, hòa tỳ quá thấp, thư gân cổt dùng chữa phù nể, chân tay đau nhức, ho lâu ngày.
Hiện nay mộc qua thường được dùng phối hợp với xương hổ trong đơn thuốc chữa đau nhức, thấp khớp, ho lâu ngày, phù nề. Ngày dùng 6 đến 12g dưới dạng thuốc sác hay ngâm rượu, dùng riêng hay phối hợp vói nhiổu vị thuổc khác.
Chú thích:
Ngoài cây mộc qua Chơenomeles lagetìat ia nói trên, tại thị trưòng Trung Quốc còn dùng quả một SỐ cây khác cùng chi Chaenomeles như c. sinensis Ợhouin) Koehne và một sô thứ của cây mộc qua nói trên nhu Chaenomeles lagenaria Koid. var. wilsonii Rehd., Chaenomeles lagenaria Koidz. var. Cathaycnsis Rehd.
Đơn thuốc có mộc qua
Rượu hổ cốt mộc qua (Dược diên Trung Quốc, ỉ963)
Xương hổ chế 40g, mộc qua 120g, xuyên khung 40g, xuyên ngưu tất 40g, đương quy 40g,
thiên ma 40g, ngũ gia bì 40e, hồng hoa 40gy, tục đoạn 40e, bach gia cãn 40g, ngọc trúc 40g, tần giao 20g, phòng phong 20g, tang chi 16g, tất cà 14 vị thuốc trên đem tán bột thô, rồi cho vào 15 lít rượu trắng, đậy kín, mỗi ngày khuấy một lẩn, sau một tuần lỗ thì mỗi tuẳn khuấy một lần. Một tháng sau lọc lấy rượu, còn bã đem ép lấy nước thêm vào dịch đã lọc được. Lấy 1,300kg đường phèn, hoà vào nước rổi trộn chung với rượii thuốc. Để lắng, lọc là được.
Rượu này có tác dụng trừ thấp, tán hàn, đuổi phong, giảm đau dùng chữa phong tẽ thíp, tay chán co quắp, đau nhức, mắt méo xệch. Ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 20g đến 40g. Phụ nữ có thai không dùng được.
Viên hổ cốt mộc qua (Dược điển Trưng Quốc ì 963):
Xương hổ chế, mộc qua, bạch chỉ, hải phong đằng, uy linh tiên, xuyên khung, đương quy, thanh phong đằng, mồi vị 50g, ngưu tất lOOg, xuyên ô chế thảo ô chế mồi vị 25g đảng sâm 8g. 12 vị nói trên trộn với nhau, tán nhỏ, rây, trộn đều, dùng mật ong đã cô đặc làm viên hoàn, mỗi viên hoàn nặng lOg. Viên này có tác dụng hoạt huyết, dãn gân cốt, tán phong, chỉ thấp dùng trong những trường hợp chân tay cứng đờ, lưng gối đau nhức, gân cốt yếu, đi lại khó khăn. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần uống 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Phụ nữ có thai khổng dùng được.
Bình luận