Mộc thồng là một vị thuốc ta vừa nhập cùa Trung Quốc, vừa khai thác trong nước. Nhưng ngay mộc thông của Trung Quốc cũng không thống nhất. Người ta đã thống kê, phát hiện thắy hơn 10 loại cây khác nhau, thuộc các họ thực vật khác nhau, chủ yếu thuộc 2 họ: Mộc hương Aristolochiaceae, Mao lương (Rauunculaceae) cho vị thuốc mang tên mộc thông.

Tại Việt Nam, cũng có mấy cầy khai thác vói

tên mộc thông. Khi sử dụng cần chú ý theo dõi.

Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số cây thường được dùng nhất.

VỊ mộc thông, nguyên gọi là thông thảo, vì có lỗ nhỏ ở hai đầu nên gọi tên như vậy (mộc là gỗ, thông là thông qua).

A. Mò tả cày

Cáy mộc thông mã dậu lình-hãy mộc thõng (Hocquartia manshuriensìs (Kom) Nakai hay Aristoỉochia manshuriensis Kom thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) (hình 179) là một loại dày leo vào cây to, dài độ 6-7m, cành non có lông. Lá to, hình tim, mép nguyên, cuống lá dài. Hoa mọc ở kẽ lá, màu lục nhạt, trong có các đốm màu tím. Quả màu xám mở ở trên đỉnh (Hình 181).

Cây này chưa thấy ở Việt Nam. Tại Trung Quốc, cây này được dùng ờ Hắc Long Giang, Liêu Ninh, Cát Lâm.

Trung Quốc còn dùng và bán sang ta các loại mộc thông sau đây:

Tiểu mộc thông do cây Clematis armandi Franch. Thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae).

Bạch mộc thông do cây Akebia triỹoliata (Thunb) Kcidz var. austraỉis (Diels) Rehd. thuộc

&

họ Lardỉzabaỉaceae. Có tác giả xác định là Akebia quinata (Thunb) Decne. Những cây sau được khai thác ở Quảng Đông, Quàng Tây, Van Nam, Tứ Xuyên v.v…

B. Phân bố, thu hái và chẽ biên

Người ta dùng thân cây, bóc vỏ, phơi khô mà dùng. Do nguồn gốc khác nhau nguời ta phân chia rà:

Quan mộc thông (Cauỉis Hocquartiae manshuriensis) thu hái từ tháng 9 đến tháng 3, cát thành từng đoạn ngắn dài tùy ý, cạo bỏ vỏ ngoài, bó thành tùng bó, phơi khô. Loại này chủ yếu tiêu thụ ở vùng Hoa Bác, Hoa Đông và có xuất cảng.

Hoài mộc thông (Caulis Clematidis armandi) thu hoạch vào tháng 9, cắt thành từng đoạn 60cm, bóc bỏ vỏ phơi khố. Vùng Quảng Đông, Quảng Tây có xuất sang ta.

, Bạch mộc thông (Cauìis Akebiac trifoì\aiae) thường chỉ tiêu thụ ở vùng Quế Lâm (Quảng Tây), Vân Nam. Không thấy nói khai thác đổ xuất khẩu.

C. Thành phần hóa học

Trong mộc thòny mã dậu linh hay quan mộc thông (Hocquơrtia mashuriensis) ngưòi ta chiết ra được 0,091% chất có tinh thc màu vàng, độ chảy 281-283", công thức thô C|2Hn04 (Hóa học học báo, 22: 1144-1956).

Trong mộc thông Nhật Bản (Akebia qui na la Decne) người ta đã lấy được một loại glucozit gọi là akebin (C3íH56Oia):i khi thủy phân sẽ được akebigenin C3 H₅₀O₄, glucoza và rhamnoza (Tạp chí hóa học Nhật Bán 48, 49, 1927-1928). Ngoài ra còn có hederagenin C,0H4gO4 và axit oleanolic hay caryophylin C₁₀H₄RO₃ (Dược học tạp chí 60, 1940).

D. Tác dụng dược lý

Năm 1955, Cao ứng Đầu và Chu Nhĩ Phương đã dùng mộc thông Akebia quinata chế thành thuốc rượu 25%, bốc hết rượu đi rồi tiêm vào mạng bụng thỏ (2ml cho lkg thổ trọng) cho thuốc liên tục trong 5 ngày kết quả thấy tác dụng lợi tiểu rõ rệt, thí nghiệm còn cho biết tác dụng lợi tiểu đó không do thành phần muối trong mộc thông (độ tro).

Năm 1956, Tưởng Bá Thành, Triệu Tử Đạt và Ngụy Nguyên Giang đã dùng mộc thông mã

ỉ lình Ỉ82. Mộc thông (ux linh liên) - Clematis sinensis

‘đậu linh {Arisíoỉochia manshitriensis) chế thành thuốc sắc 1:1 (]ml tương đương lg dược liệu) tiêm vào tĩnh mạch chó và thó đã đánh mê bằng phênol-bacbical (với liều 0,lg cho lkg thể trọng), rồi dùng ống để lấy nước tiểu, kết quả không thấy tác đụng lợi tiểu tiện, mà lại còn thấy có lúc nước tiểu giảm xuống.

Năm 1957, Trần Ọuân Văn ở Bộ môn dược lý Viện y học Thượng Hải báo cáo đã theo dõi người uống mộc thông (5 lần, mỗi iần 3g mộc thông) thì thấy có tác dụng lợi tiểu.

Năm 1954, theo báo cáo của Chu Nhan, mộc thỏng còn có tác dụng tăng huyết áp (tiêm dung dịch mộc thông vào mạch máu chó đã gày mê). Tưởng Bá Thành và những người cộng tác cũng ’ đi tới cùng một kết luận, tuy nhiên đối với một vài con thỏ thì không thắy hiện tượng tăng huyết áp; ngược lại, huyết áp lại hạ xuống, Chu Nhan dùng mộc thòng bán ờ Bắc Kinh, còn Tường Bá Thành thì dùng mộc thông bán ở Nam Kinh.

Nước sắc mộc thông mã đậu linh dùng với liều nhò có tác đụng hưng phấn đối với tim cô lập của cóc như sức co bóp của tim mạnh lên, ngược lại liểu lớn có tác dụng làm yếu sức co bóp của tim, cuối cùng đi tới tim ngừng đập ở thể tim giãn, liều trung bình thì làm cho tâm thất ngừng ở trạng thái tâm thu, còn tám nhĩ ngừng ở thể tâm giãn. Tác dụng này khác với tác dụng của ion canxi, nhưng cả hai vị lại có tác dụng hiệp đồng.

Liếu nhỏ nước sắc mộc thông có tác dụng hưng phấn đốì vớì tim cóc tại chồ, nhưng với liều lớn lại làm cho tim ngừng ở thể tâm thu, đổi với tim cô lập của chuột bạch thì có tác dụng kích thích.

Nước sắc mộc thông có tác dụng kích thích đối với mẩu ruột cô ìập của chuột nhắt, nhưng đối với tử cung cô lập của chuột nhát thì dù là chuột có chửa hay không đều thấy có tác dụng ức chế.

Chu Nhan còn phát hiện trẽn lam sàng thấy nước sắc mộc thông có khi gây nôn. Người lớn uổng với liều 15g một lẩn hay hơn thì sau 30-60 phút thấy nón mửa.

E. Công dụng và liều dùng

Tính chất mộc thông theo tài liệu cổ: Vị đắng, tình hàn, vào 4 kinh: tâm, phế, tiểu trường và bàng quang. Có tác dụng giáng tâm hỏa, thanh phế nhiệt, lợi tiểu tiện, thỏng huyết mạch. Dùng chữa thấp nhiệt lâm bệnh, tiểu tiện khó khăn, thủy thũng, phụ nõ kinh bế, sữa tác.

Mộc thông là một vị thuốc dùng chùa tiểu tiên khó, thủy thũng, ít sữa. Ngoài ra còn chữa kinh nguyệt bế tắc. Phụ nữ có thai và những người tiểu tiện quá nhiếu không dùng được.

Liểu dùng hằng ngày 4-6g dưới dạng thuốc sắc; dùng riêng hay phố hợp với các vị thuốc khác.

Đơn thuốc có mộc thông dùng trong nhân dãn

  • Chữa khó tiểu tiện hay tiểu tiện đau buốt: Mộc thông, phục linh, trạch tả, đàng tâm, xa tiền, chư linh mỗi vị 6g, nước 600ml, sắc còn 200ml. Chia nhiều lần uống trong ngày.

  • Tiểu tiện ra huyết: Mộc thông, ngưu tất, sinh địa, thiên môn đông, hoằng bá, cam thảo, mỗi vị 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia nhiều lần uống trong ngày.

Chú thích:

Tại Việt Nam, nhiều nơi nhu ở Hà Tây, Hoà Bình, người ta khai thác gô đẽo vỏ, phơi khô một cây khác với tên mộc thông hay dây ruột gà (Cỉematis sinensìs Osbeck) thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae) Trung Quốc lại dùng vị này với tên uy linh tiên.

Cây này nhiều cành, hơi thành gỗ. Lá kép thường có 5 lá chét, cuống dài bằng lá chét. Lá chét nhẩn hoặc ít lông hình trứng nhọn. Cụm hoa mọc ở kẽ lá, có lá bắc từ 1 -3 thùy khá phát triển. Quả bế hình trứng dẹt, nhiều lông, mang một cán dài gấp 4 lần quả, có rất nhiều lông (hình 182).

Nhân dân ta dùng thân và rể thái mỏng, sao vàng sắc uống cho dễ tiêu, thông tiểu và lợi sữa.

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Theo Viện nghiên cứu y học Bác Kinh thì loại uy linh tiên Trung Quốc có chứa một chất saponin.

Ngoài cây nói trên, trong nhân dân còn đùng một cây nữa cũng mang tẽn mộc thông, tên khoa học là Cỉematia vitalba L. cùng họ, mọc ở miền Bác nước ta. Toàn cây có mùi hắc, nóng. Lá tươi giã đắp lên da gây đỏ phóng. Phơi khô hay sao khô thì mất tính chất này. Có khi người

ta dùng lẫn với cầy trẽn, nhưng nguy hiểm.

Chưa có tài liệu nghiên cứu về cây này.

Một cây khác nữa được khai thác với tên mộc thông còn có tên nữa là dáy khô’ ráck-ỉodcs ovalìs Blume var. vitiginea (uy linh tiên) (Hancc) Gagnep, thuộc họ Mộc thông {Phyỉocrenaceae). Đây là một loại dây leo bằng tua cuốn, có lông mịn màu vàng nâu. Lá mọc đối, hình trứng, đầu nhọn, mặt dưới có lông. Hoa màu xanh vàng nhạt, mọc thành chùm thùy ở kẽ lá gồm hoa đực và hoa cái. Quả có lông mịn màu vàng nâu. Mùa hoa: tháng 5-6, mùa quả: tháng 7-8. Cây mọc hoang dại ờ khắp những tỉnh có rừng núi. Người ta dùng thân, rỗ và lá thu hái gần như quanh năm. Rễ thân rủa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô dùng chữa phù thũng, tiểu tiện khó khăn, thiếu sữa, kinh nguyệt bế. Ngày dùng 6- 12g dùng riêng hay phôi hợp với các vị thuổc khác. Lá và thân còn được dùng nấu nước tám chó phụ nữ mới sinh nở cho mạnh, khỏe. Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

SÒI

Còn gọi là ồ cửu, ồ thụ quả, ô du, thác tử thụ, mộc tử thụ, cửu tử thụ.

Tên khoa học Sapium sebiỷerum (L.), Roxb.

(Croton sebiferum L. Stìllìngìa sebifera Michx.).

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Cây sòi cho các vị thuốc sau đây:

  1. Vó rễ-ô cửu căn bì {Radix Sapii) là vỏ rễ phơi hay sấy khô cùa cây sòi. Có khi người ta dùng cả vỏ thân, nhưng hay dùng vỏ rễ hơn.

  2. Dầu hạt sòi-cửu chi hay ô cửu chi hay bì du (Oleum Sapii) là hỗn hợp chất sáp bọc lớp ngoài của hạt và dầu ép từ hạt sòi.

Tên gọi là ô cửu vì quạ (ô) thích ăn hạt cây này.

A. Mò tá cây

Sòi là một cây nhỡ, cao chừng 4-6m sống lâu nãm. Thân màu xám, lá mọc so le, sớm rụng, cuống dài 3-7cm, phiến lá hơi hình quả trám dài, rộng 3-9cm, đầu lá nhọn dài, hai mặt đều màu xanh, bóng không có lông, mép nguyên, khi còn non thì mểm và mỏng. Hoa mọc thành bông dài 5-1 Ocm ở kẽ lá hay đẩu cành, đơn tính, hoa đực chiếm phẩn trên của bông, về sau

Hình JS₃. Sòi - Sapium sebiferum

ở phía dưới bông mới thấy xuất hiện 1-4 hoa cái. Cánh màu trắng vàng hay vàng. Quả hình cầu, đường kính chừng 12mm, khi chín có màu đen tía, 3 ngăn, mỗi ngăn có một hạt hình trứng, trên mạt có đường rãnh dọc; trong hạt có dâu, ngoài hạt có một lớp sáp tráng gọi là bơ sòi hay mỡ thảo mộc. Mùa hoa: tháng 3-4, mùa quả: tháng 9 (Hình 183).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây sòi mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta, nhưng tại miền Bắc và miền Trung, nhân dân thường trồng để lấy lá nhuộm lụa hay sa tanh màu đen.

Còn mọc hoang và được trồng tại các nước khác như Trung Quổc, Nhật Bản, Mỹ. Tại những nước này người ta trồng để lấy hạt ép dầu, trái lại ở nước ta do cắt nhíểu lá để nhuộm cho nên ít quả.

Muốn lấy hạt, người ta hái vào mùa thu, cuối thu. Quá hái về phơi khô, đập lấy hạt; hạt này đặt trên một cái chổ có lỗ nhỏ đun nóng lên thì lớp sáp bọc ngoài hạt sẽ chảy ra, dể nguội sáp này đông đặc là loại sáp tốt nhất. Sau khi lớp sáp bọc ngoài hạt đã chảy rồi, đem giã nhò hạt còn lại và ép thì sẽ được thứ dấu lỏng. Nếu hạt lấy được đem giă nhỏ rỗi ép ngay thì ta sẽ được bốn lớp sáp ở ngoài vỏ hạt và dầu lòng của nhân.

Tại nhiều nước, người ta để riêng các loại dẩu trên ra hay trộm chung tất cả với nhau. Ví như tại Trung Quốc, dầu ép được từ nhân (sau khi đã bỏ lớp sáp ở neoài hạt đi rồi) thì gọi là tử du hay cửu du, sáp lấy từ lớp vỏ ngoài gọi là bì du, dầu do hỗn hợp lớp sáp ngoài và dầu trong nhân thì gọi là mao du hay mộc du.

C. Thành phần hóa học

Trong vỏ rễ có một loại tinh thể không màu hình trụ, có công thức thô là C|0H12O4, cấu tạo hóa học đã được xác định là pholoraxetophenon 2-4 dimetyl ete, chất này có tác dụng sát trùng đường ruột.

Trong vỏ rẽ sòi người ta còn chiết được

Áxit sebiịeric

xanthoxylÍTi Cl₀H[2O4 và một tinh thể có độ chảy 200"C (Dược học học báo 1958, 6, 51 và Hoá học học báo, 1957, 23, 259), trong lá sòi có chất béo, vitamin E (C. A. 1965, 63, 4663g), tanin 8,7%, từ lá tươi chiết được corilagin C₂₇H,20|g, axit ellagic, axit galic và izoquexitro- zit (Arthur H. R. Symposium on Phviochemistry 1964, 164).

Theo Pradhan B. p. et al. (ỉndian J.Chem,

1973, II, 1217-1220) trong vỏ thân sòi có 3-4 di-O-methylellagic axit và axit sebiferic

C₃₀H«O2-

COCHH

Phỉoraxetophenon 2-4 đimetyl etc

Từ hạt lấy ra được các thành phấn sau đây:

  • Lớp sáp bao bọc quanh vỏ hạt (có thể chiết bằng ête). Hiệu suất 19-20%. Sáp này màu tráng nhạt, độ chảy 58", chỉ số xà phòng 195,6, chi số iot (Hubl ở 22") là 28,5.

  • Trong nhân có chừng 20% dầu lỏng nữa.

Thường chỉ có ]oại dầu lỏng ép từ nhân hạt

sòi sau khi đã loại bỏ lớp sáp và lớp vỏ nhân đi rồi có thể dùng ãn được, còn loại sáp và hỗn hợp dầu và sáp thường chỉ dùng trong kỹ nghệ làm xà phòng hay làm nến.

Năm 1953, Crossley A. và Hidilch T. p. J. Seì. Foơd Agr. Br. đã nghiên cứu thấy trong dẩu nhân hạt sòi có axit decadienoic, linolenic, linoleic và các glyxerit tripoly-etenoit.

Khô dáu sòi chứa rất ít chất đạm và cố giá trị phân đạm kém. Nhưng năm 1948, Holland Br. Meink w. đã thấy trong chất protit của nhân hạt sòi có các axit amin như xystin 1,3, histidin 2,9, lyzin 2, metionin 1,6 và một lượng đáng kể vitamin B.

D. Công dụng và liều dùng

Sáp của hạt sòi có thể thay bơ ca cao để chế thuốc đạn (suppositoire), chế xà phòng, trôn với sáp ong làm nến, bôi tóc và chữa một số bệnh ngoài da. Muốn đùng thay bơ ca cao chế thuốc đạn, sáp sòi cần được trộn với 30-50% dầu lạc để hạ độ chảy từ 58° xuống khoảng 42°-41u-40°.

vỏ rễ cây sòi là một vị thuốc được dùng trong nhân dủn để chữa các bệnh bạo thủy, chưng kếl, tích tụ, thủy thũng (với những triệu chứng biểu hiện như sau: bụng đầy trướng, đại tiểu tiện đều khó khăn, có trướng nước ở vùng dưới cạnh sườn).

Năm 1957 (Trung dược thòng báo, 5-1957) đã chứng minh được vỏ rẻ sòi có tác dụng chữa bệnh huyết hấp trùng (Schistosomiasis) gây ra lá lách và gan sừng to, bụng trướng nước, thiếu máu trầm trọng và bệnh viêm gan có tính chất truyền nhíẻm {Phúc Kiến trung >’ dược số 8-

  1. với những triệu chứng nước tiểu sánh, ít, đại liểu tiện không thống, hoàng đản, sườn bên phải sưng đau, ăn uống kém ngon, sốt v.v…

Đào lấy rẽ (có thể dùng vỏ thân, nhưng tác dụng kém hơn) loại bỏ lõi và lớp vỏ đen náu bèn ngoài chỉ lấy lóp vỏ lụa, có thể dùng tươi hay phơi khô tán nhỏ.

Liều dùng trung bình: người lớn ngày uống 10-12g dưới dạng bột (có thể dùng tới 50-60g), trẻ con dùng trung bình 5-1 Og (có thể dùng tới 20-25g). Thường dùng từ 7-10 ngày đã thây kết quả.

Nếu dùng vò lụa tươi thì sắc với nước mà uống. Liều vò tươi gấp 3 liều vỏ khô hay bột vò khô.

Ngoài nhũng công dụng trên, lá và rễ sòi còn được đùng chữa rán độc cắn: Lá hay vỏ rễ tươi giã lấy nước uống, bã đắp lên vết rắn cấn.

Đơn thuốc có dấu sòi và vỏ sòì dùng trong nhân dàn.

ỉ. Đơn thuốc chữa mụn nhọt mẩn ngứa, nước vàng chảy đêh đâu mụn mọc đến đấy: Dầu hạt sòi (cả lớp sáp và nhân) lOOg, nước lOOg, hổng đơn 50g. Đun dầu và nước cho nóng rổi thêm hồng đơn vào: khuấy đều, đun sôi nước, hẻ nước bốc đi lại thêm vào cho đến khi hồng đem mất màu, dùng cao này bôi lên các mụn nhọt, mạch lươn trên đầu.

  1. Thuốc viên chữa bệnh thủy thũng, bụng trướng to, ăn uống kém ngon: vỏ rể cây sòi chỉ lấy lớp vỏ lụa phơi khô tán nhỏ, dùng nước cơm mà viên bàng hạt đâu xanh hoặc dùng táo đen Trung Quốc (một phần táo đcn nấu với 6 phần nước cho đến khi được một thứ nước hồ nhão, thì đem rày để loại bỏ bột), trộn với bột vỏ rễ mà viên gọi là ớ (áo hoàn.

Tùy theo bệnh nặng nhẹ dùng mỗi ngày 10 đến 20g viên thuốc nói Irên. Có thể tăng hơn, dùng nước cơm hay nước cháo mà chiêu thuốc.

Chú ỷ:

Trong cuộc điều tra sưu tầm những bài thuốc chữa bệnh huyết hấp trùng trong nhân dân Trung Quốc, người ta đã phát hiện thấy tại tỉnh An Huy huyện Minh Quốc có bài lhuổc gia truyển bảy đời của ông Diệp Thanh Hoàng chi dùng có vị rễ sòi đổ chữa bệnh bụng trướng, thí nghiệm áp dụng trong một sô’ trường hợp bệnh huyết hấp trùng thấy có kết quả tốt: bụng xẹp nhò lại, gan thu nhỏ lại, bệnh nhân ăn ngon, khòe mạnh lại.

Kinh nghiệm đó lại phù hợp với những tài liệu cổ truyền. Cần chú ý nghiên cứu với cây sòi của Việt Nam.