Còn gọi ìà mông hoa, lão mật mông hoa, lão mông hoa, hoa mật mồng.
Tên khoa học Buddỉeia offỉcinalis Maxim., (Buddleia madugascariensis Hance).
Thuộc họ Mã Hển Loganỉaceae (1).
Mật mông hoa, (Flos Buddleiae), là nụ hoa hoặc cụm hoa của cây mật mông hoa phơi hay sấy khô.
A. Mô tả cày
Mật mông hoa là một cây nhỏ, có cành non mang rất nhiểu lông đan, mọc rất mau, màu hung hay trắng nhạt, lại có cả những lông bài tiết. Lá hình trứng hay thuôn dài, phía đáy hơi hẹp lại, phía đỉnh nhọn, mép nguyên hay có răng cua rất nhỏ, dài 6- 1 lcm, rộng 2-4cm, mặt trên nhẩn, mặt dưới có lông mịn. Hoa màu vàng trắng nhạt, mọc thành cụm hình xim, nhiều hoa đài khoảng 15cm. Quả nang hình thuôn dài, mang đài còn lại ở phía dưới.
Mùa hoa tháng 2-3, mùa quả tháng 7-8. (Hình 442).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mật mông hoa mọc hoang ở rừng một số tỉnh mìén Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn. Mật mông hoa còn mọc hoang tại Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hồ Nam, Hồ Bắc, Cam Túc).
Vào tháng 2, tháng 3 đang lúc hoa còn chưa nở hái về, trừ bỏ những mẩu cành, phơi khô là được. Những hoa màu tro, nhiều nụ, có lông mịn không
lần nhiểu cành là tốt. Khi soi kính hiển vi sẽ thấy những lông ở đài và tràng gồm nhiểu tế bào xếp thành hình chữ thập, tế bào có thành dày, khe hẹp.
C. Thành phần hoá học
Theo Lý Thừa Cố (1960, Trung Quốc được dụng thực vật đồ giám) thì trong mật mông hoa có một g]ucozit có tinh thể hình kim, màu vàng trắng gọi là buddlein hay buddleo glucozit với còng thức C2sH320]4. 2H,0, độ chảy 263UC.
Trong một loại hoa của cây Buddỉeìa variabilỉs Hemsl. người ta đã chiết được một loại glucozit gọi là buddleoflavonozit C,0HJ4O15 khi thuỷ phân
Ngày dùng 3-6g dưới dạng thuổc sắc hay ngâm rượu.
Đơn thuốc có mật mông hoa
Chữa mắt sưng đỏ:
Mạt mông hoa 9g, cam cúc hoa 4g, kinh giới 4g, long đởm 4g, phòng phong 4g, bạch chỉ 4g, cam thảo 2g, nước 200ml sắc còn lOOml, chia 3 lần uống trong ngày.
Chú thích:
- Hiện nay tại một vài tỉnh trong nước ta khai thác một loại hoa với tên mật mông hoa. Sự thực đó là của cây bàng bục hay cdv cám lợn
Buddỉein
bàng axit suníuric, sẽ được ramnoza, glucoza và buddleoílavonola C₁₅H|406, nếu thuỷ phân kiểm sẽ được phlorogluxinola ,axit anisic và axeton (theo Wehmer, 1935, Die Pflanzenstoffe, Ergatìĩungsbanả).
D. Còng dụng và liều dùng
Theo tài liệu cổ mật mông hoa vị ngọt, tính bình hơi hàn, vào kình can. Có tác dụng nhuận gan, sáng mắt, trừ màng mộng dùng chữa thong manh, mắt đỏ đau, nhiều nước mắt.
Hiện nay mật mông hoa là một vị thuốc nhân dân chuyên dùng trong nhãn khoa chữa các trường hợp thong manh, mắt sưng đỏ, chảy nước mắt, làm cho các tia đỏ giảm đi.
Thường dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác nhu cúc hoa, câu kỷ tử, sinh địa hoàng, cốc tinh thảo, thảo quyết minh.
Maỉỉotus ỷuretianus thuộc họ Thầu dầu (.Euphotbiaceae). Cần chú ý tránh nhầm lẫn.
- Trong họ Mã tiền cùng chi Buddlela còn có cây bọ chó hay sầu đâu chuột Buddleia asỉatica Lour. (Buddleia neemda Ham.) tên Trung Quốc là tuý ngư thảo. Cây này cao l-2m hay hơn. Cành và hoa có nhiều lồng bài tiết. Lá thon dài, đầu nhọn dài, mép nguyên hay có răng cưa rất nhỏ, dài 7-18cm, rộng 1,5-4,5cm. Hoa màu trắng nhạt, cuống ngấn mọc thành chuỳ thưa gồm ĩihiểu xim, mỗi xim có 3 hoa. Quả nang thuôn dài 3-6mm, rộng 2mm. Hạt có cánh, hình thoi dài lmm.
Mọc hoang ở kháp nơi ở Việt Nam; còn mọc ở Trung Quốc, Philipin.
Một sô’ nơi dùng cây này để duốc cá và chữa ghẻ.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 443. Cúc áo - Spílanthes acmella non L.).
Thuộc họ Cúc Asíeraceae ịCompositae).
A. Mô tả cày
Cây cúc áo là một loại cây nhỏ, cao chừng 0,40 đến 0,70m. Lá hình trứng thon dài hoặc hình trứng, mép có răng cưa to hay hơi lượn sóng, phiến lá dài 3-7cm, rộng l-3cm. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, hơi hình nón, màu vàng, dài 10-I5mm. Quả bế màu nâu, mép có gờ, màu nhạt, đài 2-8mm, đẹt (Hình 443).
B. Phán bố, thu hái và chế biến
Cây cúc áo hiện mọc hoang ở khấp các nơi đất ẩm ở nước ta. Chưa được trồng; còn mọc ở các nuớc khác như Lào, Cămpuchia, Philipin, Miến Điện, Malaixia, Ân Độ. Người ta cho rảng cây này nguồn gốc ở Nam Mỹ.
Tbàn cây có vị cay tê, cây mọc hoang cay tê hơn cây trồng. Đặc biệt cụm hoa có vị rất cay, tê nóng, gây chảy nưốc đãi rất nhiểu.
Thường người ta dùng hoa tự hái vào mùa hè và thu. Có nơi dùng toàn cây. Dùng tươi hay phơi khô.
C. Thành phần hoá học
Trong cụm hoa cũng như trong toàn cây có chứa một tinh dầu mùi cay hăng. Thành phấn chủ yếu của tinh dầu lạ chất spilanten C1?HJ₀ (một chất tecpen đặc biệt) và một chất rượu gọi là spilantola C₃₇HMN₂₀. Từ 5kg cụm hoa, các tác giả Nhật Bản, Ý Asahina và M. Asens (Năm 1920), đã lấy ra được 50g spilantola thô. Chất này tác dụng với axit clohydric cho một bazơ gọi là ísobutylamin có cống thức C₄HMN.
Hydrô hoá, spilantola sẽ cho hydrospilantola. Dưới tác dụng của hơi axit clohydric ép, hydrospilantola cho isobutylamin và một hồn hợp axit béo: axit dexylic C₁₀H₂(]O2 và axit nonylic
C₉H₁₈O₂.
D. Công dụng và liều dùng
Trong nhân dân, cồng dụng phổ biến nhất là dùng cụm hoa giã nhỏ, ngâm rượu để ngậm khi bị nhức răng, sâu răng, thuốc sẽ làm đỡ đau, có nời đã dùng thay thuốc tê để nhổ râng. Có nơi còn dùng lá giã đắp ưên mi mát bị sưng đau.
Cây này còn được nhiều nước dùng làm thuốc: Như ờ Malaixia người ta sắc lá này đắp lên đầu chữa bệnh nhức đẩu. Tại Ân Độ ngưòi ta dùng cây này chữa nhức đáu, các bệnh ở cổ họng và răng lợi.. Theo Tavera, tại Philipin, người ta dùng rễ làm thuốc tẩy với liều 4 đến 8g, sắc với một bát nước. Nước sác lá còn dùng để rửa những nơi íở ghẻ, mẩn ngứa. Cũng tại Philipin, theo Tavera người ta dùng uống trong để làm thuổc thông tiểu tiện và có khả năng tiêu được sỏi thận.
Nước ép của lá hay nước sắc của lá có thể dùng đắp lên các vết thương, vết loét.
Có nơi còn dùng ăn như món rau và cho rằng có tác dụng chữa bệnh scobut (chảy máu chân răng).
Đơn thuốc có cây cúc áo dùng trong nhân dân
Chữa hóc xương gà, xương cá:
Hoa hoặc lá cây cúc áo 50g, lá mảnh cộng 50g, lá dưa chuột ma 50g, dấm thanh 3 thìa cà phê (chừng 20ml). Ba thứ lá hái tươi vể rủa sạch, giã nát, thêm dâm thanh vào, trộn đều, đợi 20 phút, vắt lấy một chén con nước. Cho bệnh nhân uống một ít nhưng chủ yếu là ngậm. Ngày chỉ ngậm 1 liều trôn. Nặng có thể ngậm tới 3 liều (kinh nghiệm của cụ Hà Thị Oanh, Y học thực hành 8-1962, 21).
Còn gọi là lục ngọc thụ, quang côn thụ, thanh san hô, san hô xanh, cành giao.
Tên khoa học Euphorbia tirucaỉli L. (E. viminalis Mí 11. E. rhipsaỉoides Lem.).
Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.
A. Mô tả cây
Cây nhỡ có thể cao tới 4-7m, thân có thể có đường kứih bằng cổ tay, cành nhiều, mọc so le hay hơi vòng, màu xanh, gẩy; cành con cũng gầy nhỏ, chỉ mang rất ít lá. Lá nhỏ, hình mác hẹp, hơi dày, rất chóng rụng, phiến lá dài 12-16mm, rộng 2mm. Thoáng trông, người ta có cảm tưởng là một cây khỡng có lá. Hoa tập trung ở nhũng chõ phân nhánh hoặc tận cùng ờ đầu cành. Quả nang, hơi có lông, có 3 mảnh vỏ. Hạt hình trái xoan, nhẩn (Hình 444).
B. Phân bô, thu hái và chê biến
Nguồn gốc ờ đảo Mangat (châu Phi). Phát hiện thấy ở Việt Nam từ năm 1970.
Hiện nay được trồng khắp nơi ở Việt Nam làm cảnh và làm hàng rào vì người ta cho rằng ai vô ý để nhựa cây này bắn vào mất có thể bị mù. Người ta hái cành tươi ngâm rượu chữa đau răng. Mùa hái: Quanh năm.
c. Thành phán hoá học
Kopaczewski (1947, Bull. Soc. Biol. Prance, 29, 924-926) đă nghiên cứu tính chất lý hoá, thành phần hoá học và độc tính của nhựa cây xương khô.
Tirucaỉỉoỉ
Nhựa này kích thích rất mạnh các niêm mạc, độc đối với cá và chuột. Nhựa cây này phơi nắng và nhào với nước sẽ cho một thứ guta-pecka.
Trong xương khô có tirucallol (còn gọi là
TODO: thêm hình ảnh
Hình 444. Xương khô - Euphorbta tirucaỉlì
katmol) độ chảy 133 - 134,5ĐC , = + 4,5U
(trong benzen).
Chú thích;
Ngoài công dụng làm thuớc, gần đây xương khô được xem như một cây cho dầu mỏ (xem cây tục tùy tử)
D. Công dụng và liều dùng
Tại Việt Nam, thường người ta chỉ trồng làm cảnh và làm hàng rào vì có nhựa độc.
Một số người dùng chế thuốc ngậm chữa răng đau như sau: Hái lấy chừng 50 cành xương khô, rửa sạch, ngâm ngay vào trong lOOml cồn 90°. Mỗi lần dùng 1 thìa cà phê (15ml) cho vào cốc nước, ngậm một chốc, sau đó nhổ đi, ngày ngậm 3-4 lần.
Tại Ân Độ, Phílipin và Malaixia người ta dùng cây này để duốc cá.
Tại Inđônêxya và Malaixia, người ta dùng nhựa cây này để chữa một số bệnh ngoài da.
Có thể nghiên cứu làm nguổn chế guta pecka để làm áo đi mưa.
Mới đây người ta đang nghiên cứu trồng cảy xương khô làm nguyên liệu để khai thác dầu hỏa.
Còn gọi là bá vương tiêm, hoá ương lặc.
Tôn khoa học Euphorbia antỉquorum L.
Thuộc họ Thẩu dầu Euphorbiaceae.
A. Mỏ tả cày
Cay xương rồng là một cây nhỡ, có thể cao tới 7-8m, phân nhiều cành, phị nước, cành có 3 cạnh lồi, lá kèm biến thành gai. Lá ít và nhỏ, cuống rất ngấn, mọng nước, hình trứng ngược, gân lá không rõ, mọc từ cạnh mép của cành. Hoa mọc thành tán, cuống ngắn từ những chỗ hõm của mép cành. Mỗi cụm hoa gồm 3 tổng bao, hình cầu dẹt, đường kính lcm, màu vàng, những hoa ở cạnh có cuống ngấn, những hoa ở giữa không có cuống, vòi nhuỵ tách rời, đẫu xẻ
- Quả có đường kính chừng lcm. Mùa hoa vào mùa xuân (Hình 445).
B. Phân bố, thu hái và chế biên
Cây xương rồng mọc hoang và được trồng ở khắp nơi trong nước ta để làm cảnh và làm hàng rào. Còn thấy ở Ân Độ, Nam Trung Quốc, Ai Cập, Inđônêxya.
Người ta dùng nhựa cây xương rồng cành xương rồng bóc bỏ vò, nướng nóng. Thu hái quanh năm.
c. Thành phán hoá học
Thân xương rồng chứa Medelan 3aol CMH₅₂₀, epi-fredelinol, friedelan 3fk>l CMH₅₂₀, a taraxerol CmH₅₀O và p taraxerol (C.A, 1967, 67, 73702y).
Nhựa xương rồng chứa 3 amyrin C₃₀H₅CO,
TODO: thêm hình ảnh
Hình 445. Xương róng - Euphorbia antiquorum
xycloartenol CMH₅₀O, euphol Ỵ-euphorbol và a eúphorbol C₃₁H₅₂₀ (CA, 1971, 74, 108L06f)
Toàn thân cây chứa axit xitric, axit tactric và axit íumaric
3 - a/riedeỉan R=aOH 3- (3friedelanR=$OH
p
D. Công dụng và liều dùng
Nhựa xương rồng có chất độc, tuyệt đối không được để bắn vào mắt. Nhân dân thường dùng nhụa xương rồng làm thuốc chữa đâu bụng, tẩy, tháo nước, nhưng cần pha chế với nhiểu vị khác cho đỡ có tác dụng quá mạnh.
Dùng ngoài làm thuốc chữa đau răng, làm thuốc sát trùng, diệt sâu bọ.
Cây có chất độc, dùng phải cẩn thận, không có kinh nghiệm tuyệt đối không nén dùng.
Đơn thuốc có xương rỗng dùng trong nhàn dân
Thuốc chữa đau nhức răng:
Hái cành xương rồng, cạo bỏ gai, đem nướng cho nóng mềm, giã nát, nhặt bò xơ, thêm ít muối vào. Dùng ngậm khi đau răng, lấy một miếng thuốc trên, đạt vào nơi răng đau, ngậm chặt lại, nước dãi chảy ra thì nhổ đi. Ngậm độ 3-4 lần trong ngày. Sau đó súc miệng sạch. Chú ý tránh nuốt nước, có thể gây đi ỉa.
Thuốc chữa báng (kinh nghiệm của cụ Khuê, Đỏ Tất Lợi sưu tầm, 1939).
Bồ hóng bếp 3 phần, bánh men rượu 1/2 bánh, nhựa xương rông vừa đù. Lọc bó hóng qua vải cho nhỏ mịn, giă với men rượu, nhỏ nhựa xương rồng vào cho vừa đủ làm thành bột nhão có thể viên đuợc. Tất cả làm thành chừng 20 viên, mỗi viên bằng hạt ngô hay hơn một chút.
Ngày uống 3 viên, cho vào miếng chuối và nuốt, uống trong 3 ngày, hễ thấy đi ngoài ưắng như nước gạo là khỏi, sau đó uống tiếp luón 2-3 ngày nữa, mỗi ngày hai viên cho khỏi hẳn. Kiêng thịt mỡ, hành sống.
Chưa có dịp kiểm tra lại. Thuốc có độc.
Phải hết sức cẩn thận.
Theo Lĩnh nam thái dược lục, xương rồng dùng chữa mụn to không rõ nguyên nhân (vô danh thũng độc đại sang) như sau: Hái lấy cành xương rổng, bổ dọc làm 2 hơ nóng, đang nóng, đắp mặt cắt vào chỗ sưng đau, sang độc sẽ tự tiêu.
Chú ý nghiên cứu.
Bình luận