Còn gọi là cây gạo, mộc miên, gòn, roca (Cãmpuchia), ngiou (Lào), kapokier du Tonkin, kapokier du Malabar.
Tên khoa học Gossampinus maỉabarica (D. G.) Merr., (Bombax malabaricunì DC., Bombax heptaphylla Cav.)
Thuộc họ Gạo Bombacaceae.
A. Mô tả cây
Cầy gạo có thể cao tới 15m hay hơn, cành mọc ngang với những gai hình nón, thân cũng có gai. Cành non dày, không gai. Lá sớm rụng, kép chân vịt với 5 đến 8 lá chét hình mác hay hình trứng, dài 9-15cm, rộng 4-5cm. Hoa đỏ, nhiêu, mọc trên những cành nhỏ trước khi có lá non. Quả nang hình thoi, dài 8-15cm với 5 van cứng, mặt trong có nhiều sợi bông. Hạt hình trứng, xung quanh có lông đài, trắng, mịn (Hình 426).
B. Phàn bỏ’, thu hái và chế biến
Cây gạo được trồng ờ khắp các tỉnh miền Bấc nước ta nhất là hai bên đưcrng. Còn mọc ờ An
35- CTVN
Độ, Inđônêxya, Trung Quốc.
Người ía dùng vỏ, rễ và chất gôm của cây gạo. Thường dùng tươi, vỏ cây bóc về cạo bỏ vỏ (hô và gai, rửa sạch, thái nhỏ phơi hay sấy khô sác uống hay giã nát dùng tươi.
Hoa và hạt cũng được dùng, c. Thành phần hoá học Trong vổ cây gạo có chất nhày. Các bộ phân khác và hoạt chất khác chưa thấy nghiên cứu.
Trong hạt có 20-26% chất béo đặc (nhân chứa tới 35%) màu vàng.
D. Công dụng và liều dùng Vò gạo thường được dùng bó gãy xương, vỏ tươi giã nát bó vào ncfi gãy, sao vàng sác đặc để uống làm thuốc cầm máu, cíhữa lậu, thỏng tiểu.
Mỗi ngày uống 15-20g. Có thể sẳc và ngậm chữa đau răng.
Do chất nhầy trong vò, vỏ gạo còn được dùng để loại bỏ tạp chất khi chế tinh bột, vì chất nhầy có tác dụng quện những tạp chất của tinh bột.
Hỡã gạo sao vàng sắc uống chữa ỉa chảy, kiết lỵ. Ngày uống 20-30g.
Hạt còn dùng ép lấy dầu. Khô dầu (bã hạt sau khi ép dầu) được dùng cho súc vật ăn để ra sữa.
Chất iỊôm cây gạo được dùng uống chữa lậu, thông tiểu, cho mát. Ngày uổng 4-10g.
Bình luận