Cỏn gọi ìà hoàng hoa, kim trầm thái, huyền thảo, lêlô, lộc thông.

Tên khoa học Hemerocaỉlỉs fuỉva. L.

Thuộc họ Hành tỏi Liliaceae.

Cây hoa hiên có thể cho ta các vị thuốc sau đày:

  1. Rễ hoa /ĩíêrt-hoàng hoa thái căn (Radix Hemerocallitìs) là rễ và thân rễ phơi khồ của cây hoa hiên.

  2. Lá hoa hìẽn (Poíìum Hemerocaỉlìtis) là lá cây hoa hiên hái tươi mà dùng.

A. Mỏ tả cây

Hoa hiên là một loại cỏ sống lâu nãm, thân rễ rất ngắn, có rễ mẫm nhưng nhỏ. Lá hình sợi, dài 30-50cm, rộng 2,5cm hay hơn, trên mật có nhiều mạch. Trục mang hoa cao bằng lá, phía trên phân nhánh, có 6-10 đến 12 hoa. Hoa to, màu vàng đỏ, có mùi thơm, tràng hoa hình phễu, phía trẽn xẻ thành 6 phiến. Nhị 6. Bầu có 3 ngãn. Quả hình 3 cạnh. Hạt bóng, màu đen. Ra hoa vào mùa hạ và mùa thu. (Hình 178, Hm 48,2)

B. Phàn bố, thu hái và chê biến

Hoa hiên mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta để lấy hoa nấu cạnh. Một sô’ nơi dùng lá hay hoa làm thuốc chữa đổ máu cam. Còn mọc ờ Trung Quốc, Nhạt Bản, châu Âu, lá hái quanh năm; rễ đào vào thu đông, có khi vào các mùa khác, dùng tươi hay phơi khô, thường dùng tươi.

C. Thành phần hóa học

Khương Chi Nghĩa (Viện dược học Nam Kinh, Trung Quốc) đã chiết được từ rẽ hoa hiên của Trấn Giang 3 chất có tinh thể gọi là chất A, B và c có độ chảy 165-167nc, qua thí nghiêm dược lý thì có (ác dụng ức chế đối với huyết hấp trùng nhưng có độc.

Các bộ phận khác, chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

D. Tác dụng dược lý

Năm 1964, Ngô Thế Phương (Bộ môn sinh lý) và Dương Hữu Lợi (Bộ môn dược lý) Trường đại học y khoa Hà Nôi đã dựa vào kinh nghiệm nhân dân, nghiên cứu cơ chê’ tác dụng của hoa hiên trên súc vật thì thấy (Tạp chí đông y số 76 (1966), trang 18-22):

  • Dùng nước sắc hoa hiên thời gian Quick giảm rõ rệt, nghĩa là làm tăng tỷ lệ protrombìn toàn phần.

  • Cũng như vitamin K, nước sác hoa hiên có tác dụng chống lại tác dụng của đicumarin.

  • Tiểu cầu tăng, hồng cầu tãng, nhưng sô’ lượng bạch cầu và công thức bạch cầu không thay đổí.

  • Tăng trương lực của tử cung và thành một