Còn gọi là thùa, lưỡi lê, dứa Mỹ, nil pisey (Cãmpuchia), sisal, agave (Pháp).
Tên khoa học Agave americana Lin.
Thuộc họ Thủy Tiôn Amarylìĩdaceae.
Dứa bà trước đây chủ yếu chỉ được khai thác lấy sợi, một số bộ phận được dùng làm thuốc, Gđn đây được một số nước khai thác làm nguyên liệu chiết hecogenin, dùng làm nguyên liệu bán tổng hợp các thuốc loại coctizon.
A. Mô tả cây
Dứa bà là một loại cây sống dai do thân rẽ, thân trên mặt đất ngán, lá hình kiếm dài 1,2- 1,5m, quãng giữa rông 13cm, ngọn lá có gai to, nhọn, rắn, dài khoảng 1,5cm. Gai ở mép lá có màu dcn, bóng như sừng. Mỗi cây có khoảng 30-50 lá, mọng nước, mỗi lá có thể cân nặng 1,5kg. Sau nhiều năm (10-15 năm) cây ra hoa. Hoa đính Irên một trục lớn, thảng đứng, mọc từ giữa vòng lá. Trục hoa cao 4-6cm, có khi tới lOm, trên có tới hàng nghìn hoa. Sau khi cây ra hoa thì cây lụi đi. Hoa màu xanh, nhị mọc thò ra ngoài (Hình 216).
Người ta đã thống kê thấy có khoảng 300 loài Agave, vào khoảng 60% số loài này có chứa hecogenin, nhưng những loài được khai thác vừa để lấy sợi vừa để chiết heocogenin là các loài Agave americana, Agave sisalana Perr., Agave fourecroydes Lem, đểu nguồn gốc Mêhicô (Trung Mỹ).
B. Phân bố thu hái và chế biến
Dứa bà vốn nguồn gốc Bắc và Trung Mỹ, nhưng hiện nay được phát triển trồng ở khắp những vùng khô cằn các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Nổi tiếng nhất hiện nay là dứa bà trồng và khai thác tại các nước Tănganika, Kênya, Angôla, Braxin, Mêhicô…
Ở nước ta dứa bà được trổng làm cảnh, làm hàng rào, một số nơi trồng lấy sợi, nhiều nhất tại các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tày… Cây mọc rất tốt ở những đổi đất đỏ, khô cằn, cho nên ta có thể nghiên cứu cho trồng lớn tại những vùng đồi trọc hiên đang bỏ hoang tại nhiéu tỉnh ở nước ta.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 216. Dứa hà - Agave americana
Sau khi trồng ba nãm, có thể bắt đầu thu hoạch lá. Tại những vùng đất thích hợp, người ta có thể thu hái hai đến ba lứa lá trong một năm, mỗi cây có thể thu hoạch 5-6 năm lién. Sau đó trổng lại. Tại một số nước miền đông châu Phi, hàng năm có thể thu hoạch để chế khoảng 10 vạn tấn sợi dứa bà dùng làm thảm chùi chân, bện dây thừng chạc, đệt vải thô, bảo tải…
Nước ép từ lá có chất ngọt, trước đây ở một
sô’ nước được nhân dân đùng cho lên men thành một thứ rượu. Tại Mêhicồ rượu này được nhàn dân gọi là rượu puncơ (pulque) còn có tên là “vang dứa bà” (vin cTagave), nếu đem cất thì được rượu gọi là rượu mescal.
Lá sau khi ép, đem ngâm và tước lấy sợi. Thân có lõi có thể dùng làm nút chai.
Muốn khai {hác dứa bà làm nguổn chế hecogenin, hoặc là người ta ép lá dứa bà (được khoảng 60% trọng lượng lá), đem cô nước ép này đến độ cao mểra rổí đưa về chiết ỉấy hecogenin. Cũng có nơi khồng cô mà để dịch ép lên men, được một thứ bùn cặn chứa tù 5 đến 10% hecogenin. Đưa về nhà máy để chiết xuẫt.
Một số vùng nhân dân dùng thân và rễ làm thuốc chữa sốt, dùng ngoài làm thuóc sát trùng, chữa vết loét.
c. Thành phán hóa học
Trong lá dứa bà có rất nhiều đường khử, sacaroza, chất nhầy, vitamin c và các saponozit, steroit trong đó thành phần chủ yếu ỉà hecogenin và tigogenin. Trong lá cây đã trưởng thành, theo Dawidar và Fayez (1961) có 0,17% hecogenin, trong lá cây đã trỗ hoa, hàm lượng có thể lên tới dịch ép lá dứa bà, người ta thủy phân cao mềm hoặc bùn bằng axit. Sau đó nguời ta chiết hecogenin và tigogenin -và các saponozit khác bằng heptan nóng hoặc bằng butanol bão hòa nước. Tinh chê ta sẽ được hecogcnin và tigogenin tinh khiết.
Năm 1974, Ngô Vân Thu và cộng sự (Dược học, 1974, 6, 4-7) đã chiết từ 50kg lá dứa bà thu hái ở vùng Thị Cầu (Bác Ninh), chiết được 48g saponozil toàn phẩn và từ 48g saponozit toàn phần này chiết được 14,6 hecogenin (tính ra [à 0,03% trên nguyên liệu lá tươi).
D. Công dụng và liều dùng
Hiện nay ở nước ta dứa bà mới được trồng chủ yếu để làm cảnh, làin hàng rào và một số nơi dùng lấy sợi.
Một số nơi nhân dân dùng lá sắc chữa sốt, lợi ti^u. Thân và ]á phơi khô, thái nhỏ ngâm rượu uống giúp sự tiêu hóa, chữa đau nhức, thấp khớp. Dùng ngoài giã nát lá đắp lên những vết thương vết loét.
Ta nên nghiên cứu để khai thác làm nguồn nguyên liệu chiết heogenin để từ đó bán tổng hợp các thuốc loại coctizon.
H ■
CH:i
TiịỊogenin
0,23%, trong lá non và củ trên cán hoa có 0,07% hecogenin, nhưng hàm lượng tìgogenin lại nhiều hơn.
Hecogenin được Marker chiết lần đầu tiên từ cây Hectia texensis s. Wats thuộc họ Dứa (Bromeỉiaceae) vào năm 1943. Chỉ gần đây hecogenin mới được khai thác tù dứa bà. Muốn chiết hecogenin từ cao mềm hay từ bùn lắng ở
Đơn thuốc có dứa bà
Rễ cây dứa bà rửa sạch, thái mỏng phơi hay sao vàng. Cân đủ lOOg, thêm vào 1 lít rượu 30", ngâm trong 15 hôm đến một tháng. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1 đến 2 thìa nhỏ (5-10ml). Giúp sự tiêu hóa, chữa đau nhức, thấp khớp. (Kinh nghiệm nhân dân).
Còn gọi là muống tía, dã hoàng đậu, chư thi đậu.
Tên khoa học Crotalaria mucronata Desv.
Thuộc họ Cánh bướm Papilionaceae (Pabaceae).
A. Mô tả cây
Cầy bụi, cao khoảng lm hay hơn, có cành hơi có lông rạp xuống. Lá có 3 lá chét, lá chét hình trái xoan ngược nhọn hay gần tù ở góc, tù hoặc có khía ở đỉnh, các lá bên nhỏ hơn, mặt trên nhẵn, mặt dưới có lông ngắn và rạp xuống. Hoa xếp thành chùm giống những vòng giả, có lông ngắn, màu vàng, rất cong. Quả hình trụ. Hạt nhiều, màu nâu nhạt hay vàng da cam, hình thận. Mùa hoa quả: Từ tháng
5- 12 (Hình 217).
B. Phân bố, thu hái và ché biến
Cầy mọc hoang dại và được trồng ở khắp nước ta chủ yếu dể làm phân xanh. Thân cành làm củi.
Làm thuốc người ta dùng hạt: Vào mùa thu, hái quả chín, phen khô, đập lấy hạt phơi cho thật khô. Còn dùng toàn cây hái tươi.
C. Thành phần hóa học
Trong hạt có mucronatin C^HyC^N (Dược học học báo, 1964, II, 207), usaramm (C. A. 1968, 69, 36312s), mucronatinin C|SH₂₅₀₆N Ợetrahedron, 1968, 24 6319), relrorsin C₁₈H₂₃₀₆N và nilgirin Ci₇H₃₃₀₅N (Teírahedron Letters, 1968, 5605).
Lá chứa vitexin c H O|0, vitexin 4’-0-xylozit
Thân chứa apigenin C|íHi9Os {Phyĩochemistry,
TODO: thêm hình ảnh
Hình 217. Lục lạc ba lá tròn - Crotalaria mucronata
1970, 9, 2581).
D. Cóng dụng và liều dùng
Còn dùng trong phạm vi nhân dán. Nguời ta cho rằng hạt ỉục lạc ba lá tròn có tác dụng chửa tiểu tiện nhiều lần, đái són, can thận kém, mát mờ, di tinh, viêm tuyến vú, Ưẻ con cam tích.
Hạt: Ngày dùng 6-12g thêm nước sắc uống.
Toàn cây: Ngày dùng 60-80g cây tươi thêm nước sắc uống. Dùng ngoài giã nát, thẻm Lí ruợu đắp lên nơi đau.
Còn gọi ỉà bìm bìm nước, tra kuôn (Cămpuchia), phak bang (Vienchian), liseron d’eau (Pháp).
Tên khoa học ỉpomoea reptans (L.) Poữ.-/po- moea aquatica Forsk.
Thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae.
A. Mỏ tả cây
Cây mọc bò, ở nước hay trên cạn. Thân rỗng, dày, có những đốt, mặt ngoài nhẵn. Lá hình ba cạnh, đầu nhọn, nhưng cũng có khi hẹp, và dài. Phiến lá dài 7-9 cm, rộng 3,5-7 cm, cuống lá nhẵn dài 3-6 cm. Hoa to, màu trắng hay hồng tím, ống hoa tím nhạt, mọc từng 1-2 hoa trên một cuống dài l-2cm. Quả hình cầu, đường kính 7-9mm. Hạt có lông màu hung, đường kính 4mm.
Mùa hoa: mùa thu (Hình 218).
B. Phân bô thu hái và chế biến
Trồng ở khắp nơi trong nước ta dùng làm rau ăn. Trong nhân dân còn dùng rau muống làm thuốc chù yếu giải độc. Dùng tươi, vò nát uống hay nấu với nước.
c. Thành phân hóa học
Trong rau muống có 92% nước; 3,2% protit; 2,5% gluxit; 1% xenluloza; 1,3% tro. Hàm lượng muối khoáng rất cao trong có có tới 100mg% canxi, 37mg% p, 1,4mg% Fe. Các vilamin gồm có 2,9% caroten; 23mg% vita- min C; 0,10mg% vitamin Bl; 0,7% vitamin PP;
0, 09 mg% vitamin B2. Ngoài ra còn nhiều chất nhầy.
D. Còng dụng và liều dùng
Ngoài công dụng làm rau ăn tươi, nấu hoặc xào, trong nhân dân rau muống được coi như
TODO: thêm hình ảnh
Hình 2ỉ 8. Rau muống - ỉpomoea reptans
là một thứ rau làm mất tác dụng của những thuổc đã uống và nhất là dùng để giải các chất độc: rau muống rửa sạch giã nát, vắt lấy nước uống.
Một số người ít dùng rau muống, khi dùng lần đầu tiên thường thấy rau muống có tác dụng nhuận tràng nhẹ.
Theo Garcia F . (Philip. Journ. Sci. 76, 1944, 7-8) tại Philipin người ta phát hiện trong ngọn một loại rau muống có một chất giống như in- sulin và do đó được dùng chữa những người bị bệnh đái tháo có đường.
Ngọn rau muống giã nát với lá cây vòi voi (Heliotropium indicum) đắp lẻn những vết loét do bệnh zona. Thân lá rau muống giã nát với mướp đắng và lá xoan dùng đấp lên ngực hay trán những người sốt, khó thở.
cỏn có tên là cây cỏ mực, hạn liên thảo.
Tên khoa học Ecỉipta alba Hassk. (Ecỉipta erecta Lamk.).
Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae).
Ta dùng toàn cây nhọ nồi (Herha Ecliptae) tươi hoặc khô.
A. Mô tả cây
Cỏ nhọ nồi là một loài cỏ mọc thẳng đứng có thể cao tới 80cm, thân có lông cứng. Lá mọc đối có lông ở hai mật, dài 2-8cm, rộng 5-15mm. Cụm hoa hình đầu màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành, lá bắc thon dài 5-6mm, cũng có lông. Quả bế 3 cạnh, hoặc dẹt, có cánh, dài ĩmm, rông 1,5mm, đầu cụt. Mọc hoang khắp nơi ở nước ca. (Hình 219, Hm 13,3)
B. Thành phần hóa học
Theo các nhà nghiên cứu trước, trong nhọ nồi có một ít tinh dầu, tanin, chất đắng, caroten và chất ancaloit gọi là ecliptin. Có sách nói chất ancaloit đó là nicotin.
Năm 1959, Govindachari T. R. và đồng sự đã chiết được từ cỏ nhọ nồi một chất vvedelolacton là một cumarin lacton. Sau đó tác giả cũng thấy chất này trong cây sài đất (công thức vvedelolacton, xem ở vị sài đất).
Ngoài wedelolacton, năm 1972 K. K. Bharagava ựnd. J. Chem 8,72: 810) còn tách được demetylvvedelolacton và một flavonozit chưa xác định.
C. Tác dụng sinh lý
Năm 1961, Viện dược liệu và Bộ môn dược lý Trường đại học y dược Hà Nội có nghiên cứu tác dụng cẩm máu và độc tính của cỏ nhọ nồi đã đi đến một số luận sau:
ỉ. Về tác dụng cầm máu
a) Nước sắc cỏ nhọ nổi khô, với liều 3g/kg thể trọng trên khỉ có tác dụng làm giảm thời gian Quick rõ rệt nghla là làm tãng tỷ lệ pro- thrombin toàn phần. Nhọ nổi cũng như vitamin K có tác dụng chống lại tác dụng cùa dicumarin.
b) Nhọ nồi làm tăng ưương Lực của tử cung cô lạp. Trường hợp chảy máu tử cung, nếu dùng nhọ nồi thì ngoài tác dụng làm tâng prothrom- bin, còn có thể làm nén thành tử cung, góp phẩn thúc đẩy việc chống chảy máu.
Đối với thỏ có thai có thể gây sẩy thai.
c) Cỏ nhọ nồi không gây tăng huyết áp.
d) Cỏ nhọ nồi không làm dãn mạch.
2, Về độc tính của cỏ nhọ nồi
Thử trên chuột bạch với liều từ 5 đến 80 lần
TODO: thêm hình ảnh
Hình 219. Cây nhọ nồi - Ecìipta alba ỉ. Cành và lá 2. Hoa 3. Quả
liều lam sàng không có triệu chứng độc.
Theo dõi trẽn lâm sàng, bệnh viện Ninh Giang (1961) đã cho 3 bệnh nhân (2 có thai 3-4 tháng, 1 khỏng có thai bị ra huyết) uống 3-6 ngày mỗi ngày 20g cỏ nhọ nồi khó chế thành thuốc sắc. Sau 1-2 ngày đỡ ra huyết, sau 3-6 ngày khỏi và ra viện.
D. Công dụng và liều dùng
Tính vị theo tài liệu cổ: Vị ngọt, chua, tính lương vào hai kinh can và thận, tác dụng bổ thận âm, chi huyết lỵ. Dùng chữa can thân âm
kém, lỵ và ỉa ra máu, làm đen râu tóc.
Nhân dân vẫn dùng cây nhọ nồi giã vắt nước uống để cẩm máu trong rong kinh, trì ra máu, bị thương chảy máu. Còn dùng chữa ho, hen. ho lao, viêm cổ họng. Ngày dùng 6 đến 12g dưới dạng sắc uống hay làm thành viên mà uống. Những người thợ nề dùng cỏ nhọ nồi để xoa tay chữa bệnh bỏng rát do vôi. Có naười dìmg chữa bệnh nấm ở ngoài da, làm thuốc mọc tóc (sác uống hoặc ngâin vào dầu dừa mà hòi), nhuộm tóc, bối lên những chỗ trổ ở da ihịl để có màu tím đen.
Bình luận