Tên khoa học Sarcocephalus cordatus Miq.

Thuộc họ Cà phê Rubiaceae.

A. Mô tả cây

Cây gỗ to cao, cành non màu nâu đậm, nhẵn, sau màu xám tráng. Phiến lá hình trái xoan, dài 8-25cm. Tù ở đỉnh, tròn và hình tim ở gốc phiến lá, màu lục bóng ở mặt trên, màu nâu nhạt ở mặt dưới. Cuống khía rãnh ở mặt trên, lá kèm hình trái xoan, dài hay bầu dục, tù và tròn ở đỉnh. Hoa tập trung thành hình đầu, đơn độc ở đầu cành. Hoa vàng hay trắng vầng, mùi thơm.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 536. Cây gáo - Sarcocephalus cordatus

Đài 5, tròn ở đỉnh, nhẵn, ống dài nhẵn, ngắn. Tràng 5, hình bầu dục ngược, nhẵn, ống tràng hơi có lông ở họng. Nhị 5, đính vào họng tràng, chỉ rất ngắn, bao phấn tù ở đỉnh. Bầu 2 ô, nhiều noãn. Quả dính lại với nhau thành một khối, hình cầu, mỗi quả 2 ô, mỗi ô chứa 5-8 hạt. Hoa nở vào tháng 3, quả chín vào tháng 7 (Hình 536).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây phân bố ở khắp nước ta, nhiều ở miền Nam. Thường thích ẩm và thấy mọc ở khe suối, chân đồi.

Thường nhân dân bóc vỏ cây dùng tươi hay phơi khô dùng dần. Có nơi lấy cả gỗ, chẻ nhỏ phơi khô, có màu vàng nhạt vị rất đắng.

Ở nước ta có nơi khai thác vỏ và gỗ cây Sarcocephalus officinalis Pierre với tên Hoàng bá (thực tế là cây khác-xem vị này)

Tại vùng Tây châu Phi thuộc Xuđăng người ta dùng vỏ cây Sarcocephalus esculentus Afz với tên đuanđakê (douandake) làm thuốc bổ, chữa sốt gần như vỏ cây canhkina do đó vỏ cây này còn mang tên vỏ canhkina châu Phi. ở nước Ghinê người ta còn dùng vỏ cây S. pobeguini.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Theo Heckel và Schlagdenhauffeen (1883- 1885) trong vỏ cây Sarcocephalus esculentus có chứa ancaloit tên là dounkakin nhưng nhiều tác giả tìm lại không thấy (Em. Perrot-Matières premières usuelles du règne vegétal, 1943-1944, tome 2, 2062)

D. Công dụng và liều dùng

Vỏ gáo được nhân dân dùng làm thuốc chữa sốt dưới dạng thuốc sắc với liều 10-16g. Có thể dùng gỗ gáo thái mỏng, cũng sắc như vỏ gáo.

Đơn thuốc có vỏ gáo chữa xơ gan cổ trướng

Vỏ gáo, cỏ sữa lớn lá, cỏ xước toàn cây. Ba vị bằng nhau, mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày. Dùng liền trong 10-15 ngày (Kinh nghiệm nhân dân).

Gỗ gáo được đóng đồ đạc thông thường.

CÂY ME RỪNG 餘甘子, 油甘子

Còn gọi là du cam tử, ngưu cam tử, dư cam tử.

Tên khoa học Phyllantus emblica Linn.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

A. Mô tả cây

Cây nhỡ cao 3 m, phân nhiều cành, cành nhỏ mềm, có lông, dài 20 cm. Lá xếp thành hai hãy trên các cành nhỏ trông giống như một lá kép lông chim, cuống lá rất ngắn. Lá kèm rất nhỏ hình ba cạnh.

Hoa nhỏ, đơn tính cùng gốc. Cụm hoa thành xim co mọc ở nách lá phía dưới của cành, với rất nhiều hoa đực, vài hoa cái. Quả hình cầu trước mọng, sau khô thành quả nang. Hạt hình ba cạnh, màu hồng nhạt. Mùa hoa: từ tháng 3 đến tháng 11 (Hình 537).

B. Phân bố thu hái và chế biến

Cây mọc phổ biến trên các đồi trọc, các bãi hoang, trong các rừng thưa ở nước ta. Cây ưa ánh sáng, chịu được khô hạn. Còn thấy mọc ở nhiều nước vùng nhiệt đới châu Á như Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam), Ấn Độ. Làm thuốc người ta dùng quả, rễ và lá. Trong công nghiệp người ta còn dùng vỏ thân, làm nguồn nguyên liệu chế tanin.

Rễ thu hái quanh năm, đào về rửa sạch đất cát, phơi hay sấy khô. Quả thu hái vào mùa thu, đồ hơi nước rồi phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hóa học

Quả chứa khoảng 45% tanin. Quả còn xanh chứa 30-35% tanin (Trung Quốc kinh tế thực vật chí, 1961, 1178). Thành phần tanin gồm axit chebulinic C₁₁H₃₂O₂₇, axit chebulagic C₄₁H₃₀O₂₇, corilagin C₂₇H₂₂O₁₈, terchebin C₄₁H₃₀O₂₆, axit chebulic C₁₄H₁₄O₁₁, axit galic, axit ellagic (C.A., 1966, 64, 3961 d). Ngoài ra còn axit phyllemblic C₁₆H₂₈O₁₇(COOH)₈, emblicol C₂₀H₃₀O₁₉ (OCH₃)₆ (C A. ,1959, 53, 5416), axit muxic C₆H₁₀O₈(C.A., 1962, 56, 15830 C), rất nhiều vitamin C (1-1,8g/100g) (C.A., 1961, 55, 4815 d).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 537. Me rừng - Phyllantus emblica

Lá chứa tanin (lá non 23-28%), ngoài ra còn kaempferol 3-glucozit (Sumbra-manian S. S. et al., Phytochemistry, 1971, 10, 2549), sitosterol, axit ellagic và lupeol (C.A., 1968, 69, 74455 y).

Vỏ thân chứa 28-29,36% tanin, 2,25% lupeol, 3,75% d-Leucodelphinidin (C. A., 1958, 52, 20455 b).

D. Công dụng và liều dùng

Trong tài liệu cổ (“Đường bản thảo” và “Nam phương thảo mộc trạng”) ghi: Quả có vị chua, ngọt, đắng, tính mát, có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, sinh tân; rễ vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thu liễm và giáng áp.

Thường dùng chữa cảm mạo, phát sốt, ho, đau cổ họng, miệng khô khát. Mỗi ngày dùng 10-30 quả sắc uống. Viêm ruột, đau bụng đi ngoài, cao huyết áp: Ngày dùng 15-20g rễ sắc uống. Lở loét, mẩn ngứa dùng lá nấu nước rửa bên ngoài.

Tại Ấn Độ người ta coi quả me rừng như một nguồn vitamin C, dùng với tên “myrobalan emblic”. Tươi thì là một vị thuốc mát lợi tiểu, nhuận tràng, dùng dưới hình thức mứt (thêm đường mật), khô dùng chữa lỵ, ỉa chảy.

Vỏ cây cũng được dùng làm thuốc chữa ỉa chảy nhưng chủ yếu làm nguồn chất chát dùng thuộc da và nhuộm.