Cỏn ỊỊỌÌ ỉà củ năn, bột tể.
Tên khoa học Heỉeocharis plantaginea R. Br.
Thuộc họ Cói Cyperaceae.
A. Mô tả cày
Cay có củ to, mọc dưới nước. Thân không có lá, tròn dài, gần như chia đốt, ngoài mãt có khía đọc, phía trong có nhiều vách ngang. Lá được thay thế bởi những bẹ hình trụ. Cụm hoa chỉ gồm có một bòng nhỏ màu vàng nâu ở ngọn.
Theo Merrill thì loài mã thầy tìeleocharis tuberosa (Roxb.) Schult. cũng chỉ là một dạng đã được tuyển chọn và đưa vào trồng trọt của loài Heleocharis planlagìnea. Dạng trổng này rất ít khi ra hoa (Hình 212).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Cây mã thầy được nhân dân những vùng núi cao lạnh gẩn biên giới Việt Nam-Trung Quốc trồng để lấy củ ăn.
Củ mã thầy (miền Nam gọi là củ năng) to bàng củ hành, ngoài có lớp vỏ màu nãu đen. Khi dùng thì cạo bỏ lớp vỏ này rồi ăn sống hay nấu với thịt. Có khi được nấu chè ăn cho mát.
C. Thành phần hóa học
Củ mã thầy chứa tới 77% hydrat cacbon (gổm tinh bột và đường với số lượng bằng nhau), 8% protein (theo Hooper), nhưng có tác giả lại phân tích thấy trong mã thấy có 60% tinh bột và 7% protein và một ít đường (theo Hemmi).
Nãm 1945, Chen và cộng sự (An antibiotìc
TODO: thêm hình ảnh
Hình 212. Mã thầy - Heleocharis plantaginea
substance in (he Chinese Water Chesnut Heleocharis tuberosa-Nature 156: 234-Anh) dã nghiên cứu thấy dịch ép của củ mã thầy có tác dụng ức chế đối vi với trùng staphỵllococ và vi trùng coli.
D. Công dụng và liều dùng Ngoài công dụng làm thức ãn bổ và mát, mã thầy được dùng làm thuốc chữa bệnh tiêu khát (đường tiện), bệnh về gan (vàng da), trường hợp nhiệt (lỵ ra máu, đại tiện táo bón, mắt sưng đỏ). Ngày dùng 10-20g dưới dạng thuốc sắc.
Còn gọi là rau pecsin, persil.
Tên khoa học Petroseìinum satìvum Hoff. (Carum petroselinum Benth. et Hoof. f).
Thuộc họ Hoa tán Umbelliỷerae.
A. Mô tả cây
Cỏ sống hai năm, cao 0,20-0,80m, rễ phát triển thành củ hình trụ, đầu hình nón. Thân có rễ dọc. Lá bóng, có cuống dài thường hình ba cạnh, 2 đến 3 líìn xẻ thành thùy với 3 thùy nhỏ, mép có răng cưa. Hoa màu lục vàng nhạt, họp thành tán kép. Quả nhỏ hình cầu. Khi vò, toàn cây tòa mùi thơm dẻ chịu (Hình 213).
B. Phân bô, thu hái và chè biến
Mùi tây vổn không có trong nước ta, mà do di thực, không rõ từ bao giờ, dùng làm rau ăn.
Người ta dùng quả, rễ và lá làm thuốc. Quả và rẽ thường dùng khô. Lá thường dùng tươi.
C. Thành phần hóa học ’ Quả (thường gọi nhầm là hạt) chứa 20% chất béo (gọi là bơ-beurrc de persil) với thành phần chủ yếu là một axit béo không no gọi là một axit petroselinic
-
Một heterozit flavonic gọi [à apiin hay apiozit, thủy phân cho apioza (pentoza với chuỗi nhánh), và apigenin (trihydroxy 5-7-4’ Aavon).
-
2,5 đến 6% tinh dáu với thành phần thay đổi tùy theo thứ mùi tây. Từ 1964, Stahl đã nghiên cứu và phân ra ba nòi hóa học chính củíi loài mùi tây là: Nòi chứa chủ yếu chất apiol 55 đến 85%. Nòi này chủ yếu gặp ở Pháp. Nòi với Ihành phần chủ yếu là alyl- tetrametoxybeiưen (50-60%) nòi này ít phô cập hơn.
Ngoài những thành phẩn chủ yếu trên đây, chiếm khoảng ‘80% tinh dầu và đều ỉà dần xuất của phenylpropan tinh dẩu mùi tây cùn chứa những cacbua tecpenic khác.
Lá mùi tày chứa chừng 0,08% tinh dầu. caro- tin, vitamin c, luteolin và apigenin.
.CH₂
i
—OCHj
CH * CHa
(60-80%) là một ete của phenol với một dãy alylic, 2 nhóm OCH₃, một nhóm metylen dioxy có tinh thể hình kim (còn gọi là Camphre của persil). Nòi này chủ yếu gốc ở Đức. Nòi với thành phần chủ yếu là myristin (đemetoxy 2 apiol) từ
Rễ chứa apigenin.
D. Công dụng và liều dùng
Mùi tây là một vị thuốc lợi tiểu và điều kinh. Người ta cho rầng hoạt chất chính trong quả mùi tây là apiozit. Apiozit có tác dụng lợi tiểu mạnh. Năm 1953, París và Gueguen đã chứng minh là apiozit không có độc tính như người ta vẫn thường nói. Apilol có tác dụng kích thích cơ trơn, nhất là đối với cơ trơn của tử cung, do đó, với liều nhỏ có tác dụng điều hòa kinh nguyệt.
Ngày dùng 4-6g dưới dạng thuốc sắc.
Lá mùi tây ngoài công dụng làm gia vị, còn là nguồn vitamin A. Ngoài ra, lá giã nát dùng đắp lên những vết viêm tấy.
Còn gọi là truởng bất lão, kim thất nương.
Tẽn khoa học Phytoỉacca escuỉenta Van Hout.
Thuộc họ Thương lục Phytoỉaccaceae.
A. Mô tả cây
Thương lục là một cây loại thảo, sông lâu nâm, cao khoảng lm. Toàn thân cây nhẵn, không có lông. Thân hình trụ tròn, hoặc hơi có cạnh màu xanh lục hoặc hơi pha màu đỏ tím. Lá đơn, nguyên, có cuống, mọc so le, phiến lá hình trứng tròn, đầu nhọn, mép lá nguyên, hai mặt lá nhẵn, dài 10-38cm, rộng 13-14cm.
Cụm hoa hình chùm, dài 15-20cm, gôm nhiều hoa mẫu 5, màu tráng.
Quả mọng, hình cầu dẹt có 8-10 múi, với vòi nhụy tồn tại, khi chín có màu đỏ tía hay tím đen.
Mùa hoa: Tháng 5 đến tháng 7; mùa quả chín: Từ tháng 8 đến tháng 10 (Hình 214).
B. Phàn bố, thu hái và chế biến
Cày thương lục mới dí thực vào nước ta vào khoảng 10 năm trở lại đây. Trong nước ta, vốn có sẩn một loài có tên khoa học Phytolacca decandra L. nhưng ít phổ biến.
Ngay cây thương lục tuy được di thực từ lâu nhưng cũng ít người sử dụng. Gần đây tại một vài nơi người ta thấy rễ cây hình củ hơi giống người cho nên có người sử dụng làm thuốc bổ với tên “sâm cao ly”. Sự thực rễ cây này phải sử dụng hết sức chận trọng vì có chất độc.
Đào rễ về, cấl bỏ rễ con, rửa sạch để nguyên rễ đem phơi trong dâm mát cho đến khô. Có người muốn cho mùi vị rẻ giống mùi vị vị nhân sâm cho nên đem ngâm rễ vào rượu 40° có pha mât ong (lkg rễ ngâm vào 250ml rượu trắng và 250ml mật ong) cho đến khi ngấm đều. Phơi hay sấy khô. Hoặc thái mỏng trước khi phơi hay sấy khô.
c. Thành phẩn hóa học
Trong rễ thương lục có chất độc phytolaccatoxin C₂₄HM₀₉ rất nhiều muối kali nitrat, axít oxymiristinic và chất saponozit.
Trong rề cây Phytolacca decandra vốn sẵn có ở nước ta có tinh bột, đường, một glucozit, tanin, một chất saponozit, gôm, chất sáp. Có tác giả còn chiết được một ancaloit gọi là phytolacxin. Trong quả có chất màu anthoxyanozit, axit phytolacxic.
D. Công dụng và liều dùng
Thương lục là một vị thuốc được dùng từ lâu đcã ưong y học cổ truyền phương đông. Người ta thấy vị thương lục được ghi chép dùng làm thuốc đầu tiên trong bộ sách llThần nông bản thảo” biên soạn vào tìãm 200 sau Công nguyên, nhưng được xếp vào loại hạ phẩm nghĩa là có tác dụng nhưng có độc tính.
TODO: thêm hình ảnh
Hình 2Ỉ4. Thương lục - phytolacca escuknta
Theo tài liệu cổ thì vị thương lục có vị đắng, tính lạnh (hàn) có độc. Vào thân kinh. Có tác dụng đại tả thùy ẩm ở phủ tạng, chuyên lợi tiểu tiện, dùng chữa những trưòng hợp tà khí ở trong bụng, thủy thũng thủy khí, dấy da bụng. Trong trưòng hợp tỳ hư mà sinh thủy thũng và phụ nữ có thai thì cấm dùng.
Hiện nay người ta thường dùng vị thương lục để chữa những trường hợp phù né, ngực bụng đầy trướng, cổ đau, khó thở. Ngày dùng 3 đến 4g dưới dạng thuốc sắc, dùng một vị hay phối
hợp với nhiểu vị khác.
Dùng ngoài đắp lên những mụn nhọt sưng đau, không kể liều lượng.
Đơn thuốc có vị thương lục ghi trong các sách y học cổ truyển
ỉ. Chữa chứng trong bụng có hòn cứng, đau đớn: Lấy bông đắp lên bụng. Giã rễ thương lục tươi, vắt lấy nước tẩm vào bông hễ thấy lạnh lại thay. Đắp liên tiếp cho đến khi khỏi.
- Chữa chứng (lau cổ họng: Dùng rễ thương lục nướng nóng, bọc vải chườm vào cổ.
Chú (hích:
-
Tại các nước chầu Âu, châu Mỹ người ta dùng lá cây Phytoỉacca decandra giã nát, sào nóng sát lên những hơi ghẻ, hắc lào, rễ được dùng uống với liều 3-4g chữa một sô’ bênh ngoài da. Rễ có tác dụng gây nôn mửa. Toàn cày này cho nguồn tro chứa nhiều muối kali: tới 60-70% tro là muối kali.
-
Hiện nay ở Việt Nam ta một số người dùng nhầm rể cây này với tên Nhân sâm tàm thuốc bổ. Vậy đặc biệt chú ý tránh sự nhầm lản này.
Bình luận