Hoa màu vàng hay điểm những dưòmg dọc tía, mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả dài đầu nhọn, hơi có lông, dài 4-7cm rộng 8-12mm, với 2 đến 3 vết lõm chạy chéo trên quả. Hạt 3-5 màu trắng nhạt, điểm đen, nâu hay đỏ nhạt tùy theo loại. Mùa hoa quả: tháng 1-3 (Hình 200).

B. Phản bố, thu hái và chê biến

Cây mọc hoang dại và được trồng làm hàng

rào tại nhiểu nơi, nhất là những nơi có thể nuôi được cánh kiến đỏ, thì cây đậu chiều là một cây chủ hay trồng nhất và cho cánh kiến tốt nhất.

Người ta dùng hạt và rễ làm thuốc. Hạt thu ở những quả chín, rễ đào quanh năm, đào vể rửa sạch, thái mỏng, phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

D. Công dụng và liều dùng

Hạt đậu chiều đuợc dùng làm thực phẩm, một nguồn protit thực vật như nhiều loại đậu khác. Nhưng phải chú ý tránh dùng những loại hạt chứa nhiều ax.it xyanhydric.

Ngoài công dụng thực phẩm, hạt và rễ đậu chiều được dùng làm thuốc chữa sốt giải độc, tiêu thũng hay đái đêm.

Ngày dùng 10 đến 20g rể hay hạt dưới dạng sắg uống.

ĐẬU ĐO NHỎ

Cồn gọi là xích tiểu đậu, mao sài xích, mè xích.

Tên khoa học Phaseolus angularis VVight.

Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

A. Mỏ tả cây

Cây loại thảo sống hằng nãm, dài 1,5-2m. Lá kép gồm ba lá chét, lá chét đôi khi lại chìa thành ba thùy cát nông, mạt dưới nhiều ỉông trắng dài, Mùa hạ ở nách lá mọc hoa màu vàng hình bướm. Quả nhỏ và dài trên mặt có lông, trong chứa hạt nhỏ. Hạt hình bầu dục, hai đầu hơi dẹt, dài 2mm, đường kính 1,5mm vò màu đỏ nâu, hay tía nâu trơn bóng nơi rốn ở phía bên hạt màu trắng vàng, hơi lồi lên, bóc vỏ đi thì nhân trong màu vàng lục, chất cúng dòn (Hình 201).

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Đâu đỏ vốn mọc hoang, vì cành lá nó rườm rà, dày kín cho nên người ta thường trồng nơi nào nhiều cỏ tranh khó trừ thì cành lá rườm rà che rợp nắng làm cho cỏ tranh không mọc lên được, trổng liền vài năm thì có thể trừ tiệt được

giổng cỏ tranh cho nên ờ Trung Quốc người ta còn gọi là mao sài mễ.

Đậu đỏ chủ yếu mọc ở những vùng miền Bắc Trung Quốc như Hà Bắc, Liêu Ninh, Sơn Đông. Vào mùa thu khi quả chín người ta hái lấy quả đem về đập lấy hạt. Có nơi dùng loại phan xích đậu thay, những hạt phan xích đậu rởng, ngắn không có rốn lồi cao còn hạt đậu đỏ nhỏ hẹp dài, có rốn hơi lồi cao. Cũng không nên nhầm với hạt cam thảo dày (tương tư tử) có rốn màu đen. Khi dùng phơi hay sấy khô, tán nhỏ.

c. Thành phẩn hóa học

Trong đậu đò nhỏ có chất protít; chất béo, gluxú, canxi, photpho, sắt, vitamin B và một số chất khác.

D. Công dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ đậu đỏ nhỏ có vị ngọt, chua, tính bình, vào hai kinh tâm và tiểu trường. Có tác dụng lợi thủy, hành huyết tiêu thũng, bài nùng (loại mù). Dùng trị thùy thũng cước khi (phù) tả lỵ, ung nhọt sưng tấy.

Thường dùng hiện nay chữa phù thũng, dùng ngoài giã nát đắp lên nơi mụn nhọt, sưng (áy. Ngày dùng 20 đến 40g dưới dạng thuốc sác hay thuốc bột, dùng ngoài không kể liều lượng.

Đơn thuốc có đậu đỏ nhỏ Xích tiểu đậu, đương quy (án (Kim Quỹ) dùng chữa đái ra máu: Đậu đỏ nhỏ, đuơng quy hai vị bằng nhau tán bột. Ngày uống 10 đến 20g bột này.