Trong đông y người ta phân biệt bạch truật và khác loài. Ngoài ra còn một sổ’ cây khác cùng chi thương truật. Cả hai vị đều do cùng một chi nhung cũng cho vi thuơng truật.
BẠCH TRUẬT âttr
Còn gọi là ư truật, đông truật, triết truật.
Tên khoa học Atractylodes macrocephala Koidz. Aíractylis macrocephala (Koidz) Hand. Mazz.; Atractylis ovala Thunb.
Thuộc họ Cúc Compositae.
Bạch truật (Rhìzoma Atractylodis macrocephalae) là thân rẽ phơi hay sấy khô của cầy bạch truật.
Chữ macrocephala có nghĩa là đấu to, ý nói cụm hoa hình đầu mà lại to.
A. Mô tả cầy
Bạch truật là một cây mọc lâu năm, cao tới 80cm. Rễ phát triển thành củ to và mẫm. Lá mọc so le, dai. Lá ở phía dưới thân có cuống dài, phiến lá chìa làm 3 thùy rõ rệt, cắt sâu, trông gần như lá riêng, lá ở ngọn không chia thùy, cuống ngắn, mép phiến lá có răng cưa đều và nhọn. Cụm hoa hình đầu, lớn, tổng bao hình chuông, phiến tổng bao gồm 7 lớp trông như ngói lợp. Tràng hoa hình Ống phía dưới màu trắng, phía trên màu tím đỏ, chia làm 5 thùy hình, sợi* dài, 5 nhị (trong những hoa cái ò phía ngoài của cụm hoa có nhị thoái hóa). Bầu nhụy có phủ lông trắng, ở đỉnh mang một chùm lông dài mượt (dùng để phát tán quả
TODO: thêm hình ảnh
Hình 293. Bạch truật - Atractylodes macrocephaỉa
nhờ gió) (Hình 293, Hm 6,1).
B. Phân bố, thu hái và chế biến
Trước đây ta phải nhập bạch truật của Trung Quốc. Tại đây người ta trồng nhiều nhất ở Triết
Giang và Hó Nam.
Gần đây đă di thưc đuợc bạch truật. Nhưng mới bắt dầu đua ra trồng rộng rãi. Đặc biệt ở nước tíi có thể trồng cả ở mién núi cao lạnh và đổng bằng thấp, nóng. Nơi cao lạnh chủ yếu nhân và giữ giống, đồng bằng thu lấy củ. Trồng bạch truật tại miền núi cao lạnh phải 2-3 năm sau mới thu hoạch củ được. Trồng ờ đồng bầng, thời gian thu có thể rút xuống còn 10-12 tháng. Vào tháng 10 âm lịch thì đào lấy thân rể (khi nào thấy lá ở gốc cây bắt đầu úa vàng thì đào). Sau khi rủa sạch, cắt bò rè con, rồi sấy khõ thì gọi là hồng truật hay bạch truật, nếu để nguyên hoặc thái mòng phơi khô thì gọi là sinh sái truật hay đông íruật. Khi dùng người ta còn sao hoặc sao vói đất màu vàng gọi là sao hoàng thổ, hoặc sao khổng cho đến màu vàng đen, có thể sao với cám: 6kg bạch truật thì dùng 400g cám. Phun một ít rượu rồi sao cho hơi nóng, cho bạch (mật đã thái mòng vào, đảo cho đến khi có màu vàng thì rây bỏ cám, lấy bạch truật. Lối sao sau cùng này ít tháy áp dụng ở Việt Nam, nhưng Trung Quốc hay dùne và gọi là phù bỉ sao bạch truật.
C. Thành phần hóa học
Trong bạch truật có tinh dầu (1,4%), nhưng thành phSn hoạt chất chưa rõ. Có tác giả nói rằng trong bạch truât có atractylola C₁₅H]60 và atractylon C₁₄H)80, vitamin A.
D. Tác dụng dược lý
Xem vị thương truât giới thiệu sau đây.
E. Cóng dụng và liều dùng
Đông y coi bạch truât là một vị thuốc bổ bổi dưỡng, chủ yếu bổ tì, kiện vị, hóa (hấp, chỉ tả (cẩm đi ngoài), chữa sốt, an thai, bổ máu, dùng trong các trường hợp sốt, ra mổ hỏi, phù thũng ’ viêm ruột mãn tính.
Theo tài liệu cổ bạch truật vị ngọt, đắng tính hơi ôn, vào hai kinh tỳ và vị. Có tác dụng kiệr vị, hòa trung, táo thấp, hóa đờm, lợi tiểu, làrr hết mồ hôi, an thai. Chữa tỳ hư trướng mãn hung cách phiền muộn, tiết tả, thủy thũng, đàrr ẩm, trị hãn (mồ hôi trộm), thai khí không yên Phàm âm hư lại táo kết không dùng được.
Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.
Bình luận