L

CH₃OH

Oỉitorixit

và phần genin là strophántiđin. lg corchorozit chứa 72.000 đơn vị ếch hoặc 10.960 đơn vị mèo (theo Turôva).

01itorozit và corchorozit đã được thí nghiêm trên súc vật và trên lâm sàng ở Liên Xô cũ làm thuốc chữa tim.

Từ hạt đay ở Việt Nam, nẫm 1970, Đoàn Định Chính và cộng sự đã chiết được 3% glucozit đặt tên là daycozit có tác dụng trên tim (1971, Trav. Sc. Edit. Meả. Hà Nội: 53-58).

D. Công dụng và liều dùng

Nhân dân ta và nhân dân một số nước khác thường dùng rau đay để nấu canh ăn hoặc làm thuốc mát, chữa táo bón, ho, bổ.

Người ta còn thấy rau đay là một loại thuốc lợi sữa: Nếu tuần đầu tiên sau khi đẻ, ăn hàng ngày 150 đến 200g vào mỗi bữa ãn chính, các tuần lễ sau, mỗi tuần ăn 2 lần với liéu 200 đến 250g thì lượng sữa tăng. Trong sữa tỷ lệ chất béo tăng hon mức trung bình.

Gần đây, ờ Việt Nam đã dùng hạt đay đã hết khả năng mọc làm nguyên liệu chế đay cozit để chữa các bệnh tim.

Chú thích:

Ngoài cây rau đay nói trên còn có cây rau đay quả tròn {Corchorus capsuỉaris L.) cùng họ. Nhân

Corchoroĩiỉ

dân ta ít dùng để ăn hay làm thuốc, nhưng tại các nước khác, người ta dùng như cây rau đay của ta.

Cây này sống hàng năm, cao 1 đến 3m. Lá hình trứng dài và hẹp, đầu rất nhọn, phía gốc Lá tròn, mép có răng cưa, dài 6-I2cm, rộng 1,5-3,5cm, hai răng cua cuối cùng có lông dài. Hoa mọc từng cụm 2 hay 3 hoa có cuống ngắn. Đài 4-5, tràng 4-5, nhị 18, bao phái hình vuồng. Quả hình cẩu hay hình lê, dài 12mm, rộng 10-llmm, có sống hơi rõ, trong chúa 2 hàng hạt, mỗi hàng 5 hạt.

Nhân dân ta có trồng cây này nhưng chủ yếu để lấy vỏ làm sợi dêt bao tải. Đôi khi cũng hái lấy rau ăn. Nhân dân Ân Độ dùng lá sắc uống làm thuốc bổ, nhân dân Malaixia dùng chữa lỵ, chữa ho ưẻ em.

Trong lá, Kobert (1906) thấy một glucoăt gọi là capsulin có vị đắng và bổ, tác dụng trên tim như lá Digitaỉis.

Từ hạt cây này, Kaner và E Baneijea (1949) đã lấy ra được một glucoát rất đấng gọi là corchotoxin, đồng phân với chất strophantìdừi và calotropagenin, có tác dụng giống như đigitalin.

Dầu chiêt từ hạt cây đay giống như dầu hạt bông. Tầ có thể phân tích dầu này thành hai phẩn dầu khô và dầu không khô. Một số tác giả khác cho rằng trong hạt cây đay còn có 2 chất đắng gọi là corchorin và corchoritin.

Vấn đề sa nhân và đậu khấu hiện nay rất khó giải đáp chính xác. Với những tên đó, người ta dùng quả của nhiều loại cây khác nhau thuộc họ Gừng (Zingiberaceae). Tên gọi còn hỗn loạn. Tạm thời chúng tôi dựa vào sự phân biệt của những tài liệu gẫn đây của Trung Quốc là noi tiêu thụ nhiều nhất. Nhưng chúng ta cần hiểu rằng nhiều loại sa nhân Trung Quốc dùng cũng đều phải nhập hoặc của ta, của Ân Độ, Cămpuchia hay Inđônôxia v.v… Tài liệu của Trung Quốc phần lớn cũng còn phải dựa vào tài liệu nước ngoài, ưong đó có tài liệu của Pháp nói về những cây của ta, mà những tài tiêu này, theo chúng tôi biết, cũng chưa chính xác. Vì đây là những vị rất hay dùng, cho nên chúng tôi cứ sơ bộ giới thiệu ở đây với hy vọng sau này có dịp kiểm tra lại.

Dưới đây là một số vị thuốc chính nguồn gi là những quả của nhiều loài cây họ Gừng: ỉ. Sa nhân (Fructus Amomi xanthioides)

  1. Dương xuân xa (Fructus - Amomi villosi) ‘3. Đậu khâu còn gọi là bạch dậu khấu h; viên đậu khấu (Pructus Arnomi cardamomi h: Fructus Carảamomì rỡtundi).

  2. Tiểu đậu khấu (Pructus Cardamomi)

  3. Hồng đậu khấu còn gọi là sơn khương (Fructus Alpiniae galangae)

  4. Thảo đậu khấu (Semen Alpini; katsumadai)

  5. ích trí nhân (Fructus Alpiniae yichi)

Trên đây mới chỉ là một sô’ cây chính. Thực

còn một số cây khác nữa sẽ nói kỹ trong mỗi ’