ch3 CHa ch3 ch3

đường gọi là gacdeniđìn tương tự với chất a- croxetin C2()H2404, hoạt chất của vị hồng hoa.

Ngoài ra, trong dành dành còn có tanin, tinh dầu, chất peclin.

CC-croxetin là một sắc tô’ màu vàng, độ chảy 273“C, không tan trong phần lớn dung môi hữu cơ, tác dụng với natri, canxi và amoniac cho muối có tinh thể. Cấu tạo của gacdenidin hay a- croxelin đã được xác định như sau:

Trong đành dành có chứa 10 đến 20% manit.

()(*)()Đối với lượng sắc tố mật. Năm 1951, Lý Hy Thần (Trung Hoa tân y học báo, 2 (9): 660- 669) báo cáo, nếu buộc chật ống mật của thỏ rồi cho thỏ uống cao nước dành dành, thì lượng sắc (Ố mật trong máu sẽ giảm xuống. Lượng cao dành dành càng tãng thì lượng sắc tô’ mật trong đau, mắt đỏ, đii vàng, tiểu tiện khó khăn, th huyết, máu cam, lỵ ra lĩiáu tiểu tiện ra máu.

Ngày dùng 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc

Còn dùng làtn thuốc đắp lẽn những nơi sim đau do đòn, do bị tổn thương; giã nát, thêm nước rỏi đắp lên nơi sưng đau.

Lá dành dành được nhân dân ta hay dùng gi nát đắp lên mất đỏ đau.

Màu vàng của dành dành không độc, nhâ dân ta vẫn dùng nhuộm thức ân như bánh X xê, thạch.

()()()có ()()()Xi rô nhân trần:italic2 Nhân trần 24g, chi tử 12* nước 600ml, sắc còn lOOml, thêm đường và cho đủ thành xirô. Chia 3 lẩn uống trong ngà chữa vàng da, vàng mắt, viêm gan.

Chi tử hoảng nghiệt bì thang (đơn thuốc kin

nghiệm của Trương Trọng Cảnh): Chi tử 5g, hoàng nghiệt (tên khác của hoàng bá) 5g, cam thảo 2g, nước 600ml, đun sôi trong nửa giờ, chia 2 hay 3 lần uống trong ngày chữa người bị vàng da, vàng mắt, sốt, tâm phiển muộn.

Chữa bỏng do nước: Chi tử đốt thành than

()(*)()Còn có tên ìà uất kim, khương hoàng, safran des Inđes,

Tên khoa học Curcuma tonga L. (Curcuma domestica Lour.).

Thuộc họ Gừng ZiniỊìberaceae.

Ta dùng thân rễ cây nghê gọi là khương hoàng (Rhizoma Curcumae longae) và rẻ củ gọi là uất kim (Radix Curcumae longae).

()(*)()Nghệ là một loại cỏ cao 0,60(11 đến lm. Thân rễ thành củ hình trụ hoặc hơi dẹt, khi bẻ hoặc cắt ngang có màu vàng cam sãm. Lá hình trái xoan thon nhọn ở hai đầu, hai mát đểu nhẵn dài tới 45cm, rộng tói 18cm. Cuông lá có bẹ. Cụm hoa mọc từ giữa các lá lên, thành hình nón thưa, lá bác hữu thụ khum hình máng rộng, đầu tròn màu xanh lục nhạt, lá bắc bất (hụ hep hơn, màu hơi úm nhạt. Tràng có phiến, cánh hoa ngoài màu xanh lục vàng nhạt, chia thành ba thùy, thùy trẽn to hơn, phiến cánh hoa trong cũng chia ba thùy, 2 thùy hai bên đứng và phẳng, thùy dưới hõm thành máng sâu. Quà nang 3 ngân, mở bằng 3 van.

Hạl có áo hạt (Hình 168, Hm 15,1).

()(*)()Được trổng ở khắp nơi trong nước ta đê làm gia vị và làm thuốc.

Còn mọc và được trồng ở các nước Ấn Độ, Inđônêxya, Cămpuchia, Lào, Trung Quốc và các nước nhiệt đới.

Thu hoạch vào mùa thu. cắt bò hết rễ để riêng, thân rẻ để riêng.

Muốn để được lâu phải dồ hoặc hấp trong 6-

12 giờ, sau đó đợi ráo nước, đem phơi nắng hoặc sấy khô. Thân rễ gọi là khương hoàng\ rẻ gọi là uất kìm.

()(*)()Trong nghệ, ngưòi ta đã phân tích được: hòa với lòng trắng trứng gà bôi lên nơi bỏng.

Chữa trẻ con sốt nónq điên cuồng ân không đưực: Chi tử 7 quả, đậu sị 20g, thêm 400ml nước sắc còn 200ml, chia 3-4 lần uống trong ngày.

Đổ máu cam: Chi tủ đốt ra than, thổi vào mũi.

MU

ỉ. Chất màu curcumin 0,3%, tinh thể nâu đỏ, ánh tím, không tan trong nước, tan trong rượu, ête, cloroíoc, dung dịch có huỳnh quang màu xanh lục.

Tan trong axit (màu đỏ tươi), trong kiềm (màu đỏ máu rồi ngả tím), trong chất béo (dùng để nhuộm các chất béo). Công thức curcumin đã được xác định như sau:

  1. Tình dầu 1-5% màu vàng nhạt, thơm. Trong

tinh dầu có curcumen một cacbon không

no, 5% paratolylmetyl cacbinol và 1% long não hữu tuyến. Hai chất sau chỉ thấy có trong tinh dầu Curcuma xơnthorrìỉa Roxb.

  1. Ngoài ra còn tinh bột, canxi oxalat, chất béo.
Theo R. R. Paris và H. Moyse (1967, 11, 78) củ nghệ chứa 8-10% nước, 6-8% chát vô cơ,

H=CH—CO—CHỉ—co—CH=CH

HO'

currcumm l

qcIỊ3 currcunùn H

H ị-ị currcumin Hỉ

Aryt-turmeron c

/ \

CH.7 CHb

40-50% tinh bột nhựa.

Hoạt chất của nghệ gồm:

  1. Tinh dầu 3-5% gồm 25% cacbua tecpenic, chủ yếu là zingiberen và 65% xeton sespuitecpenic, các chất turmeron {do tiếng Anh của củ nghệ ]à turmeric).

  2. Các chất màu vàng gọi chung là curcumin. Vào đầu thế kỷ XIX người ta đã chiết được curcumin tinh thể không tan trong nước, tan trong c6n, ête, dầu béo. Nhưng năm 1953-Srinivasan K. R. Ụ, Pharm. Pharmacoỉ. 1953, 5, 448-457) đã chứng minh bằng sắc ký trên cột silic ràng đó là một hỗn hợp:

Curcumìn chính thức (còn gọi là curcumin I) chiếm 60% đây là một dixeton đối xứng không no có thể coi như là diferuloyl-metan (axit feru- lic là axit hydroxy~4-metoxy-3-xinamic).

Curcumin ỉ! ()()()monodesmetoxy-curcumin ()()()curcumìn ỉỉl ()(*)()curcumin chiếm 14% trong đó 1 hay 2 axit hydroxycinamic thay cho axit ferulic.

Nếu dùng sắc ký trên giấy sẽ thấy các chất curcumin khác nữa nhưng với lượng nhỏ.

Theo E. Giỉdmeister và F. R. Hoffman trong linh dầu nghệ có 53,1% xeton a*p etylenic ở từ mạch nhánh gán vào nhân {bao gồm 29,5% turmeron và 23,6% arylturmcron).

’ Năm 1977, Nguyễn Khang (Đại học dược khoa Hà Nôi) đã chiết từ bột củ nghệ sau khi đă cất lấy hết tinh đầu bàng benzen, sau đó thu hổi dung môi trong áp lực giảm và kết tinh lại bầng cổn etylic cho tới khi có độ chảy không thay đổi và một vết trên sắc ký lớp mỏng đã thu được

0, 76 đến 1,1% curcumin 1 tinh khiết, độ chảy 182-183°c. Nếu chọn CỈ1 nghệ thu vào tháng 1, tháng 2 có thể đạt tói 1,5% curcumin.

Từ vỏ củ nghệ (vẫn cạo bỏ đi) đã cất được từ 1,5 đến 2,1% tinh dầu có thành phần tương lự như tinh dầu cất từ củ nghệ, do phần vỏ dày từ

0, 5-lmm trong đó trọng lượng lớp vỏ mỏng không đáng kể, còn phần củ dính vào chiếm chủ yếu.

  1. ()(*)()Guy Laroche (1933), H. Leclerc (1935) đã chứng minh tính chất kích thích sự bài tiết mật của các tế bào gan (cholérétique) là do chất paratolyl metylcacbinol, còn chất curcumin có tính chất thông mật (cholagogue) nghĩa là gây co bóp túi mật. Chất curcumen có tác dụng phá cholesterol trong máu (cholesterolitique).

Toàn tinh dấu dù pha loãng cũng có tác dụng diệt nấm và sát trùng đối với bệnh nấm, với Síaphyỉcoc và vi trùng khác.

  1. Robbers (1936) nói đã dùng chất lấy ra ở nghệ bằng ête etylic thấy có tác dụng tăng sự bài tiết mật và chất curcumin có tính chất co bóp túi mật.

  2. Trương Ngôn Chí (1955 Trung Hoa y dược tạp chí, 5) đă báo cáo: Ông đã chế nghệ dưới hai hình thức dung dịch 50% và dùng dung dịch 2% HC₁ để chiết xuất và chế thành dung dịch 50% (sau khi đã trung tính hóa mới dùng thí nghiệm).

Thí nghiệm trên tử cung cô lập của chuột bạch và chuột nhắt thấy có tác dụng hưng phấn, thí nghiệm trên tử cung của thò (theo phương pháp Reynolds) thì khi tiêm dung dịch clohydrat cao nghệ vào tĩnh mạch hoặc thụt dung dịch nghệ, đều thấy tử cung co bóp đều đặn, mỗi lần cho thuốc, thời gian tác dụng kéo dài 5-7 giờ.

Khi tiêm 5ml dung dịch clohydrat cao nghệ vào chó đã gây mê thì thấy tác dụng xúc tiến sự bài tiết nước mật, nếu tiêm tới 15-20ml, có thể đưa đến đình chỉ hô hấp và huyết áp hạ.

Thí nghiệm trên tim cô lập (phương pháp Straub) thấy có hiện tượng ức chế.

  1. Theo Vũ Điền tân dược tập, bản thứ 4 một số tác dụng dược lý của nghệ đã được nghiên cứu như sau:
  • Tác dụng đối với cơ năng giải độc của gan đã được thí nghiệm bằng cách cho uống thuốc có nghệ, sau đó theo đõi khả năng giải độc của gan đối với santonin thì thấy tăng cơ năng giải độc của gan. Nếu uống liên tục, thấy tác dụng rõ hơn là uống một lần.

  • Đối với bệnh nhân bị galactoza niệu sau khi uống thuốc có nghệ 10 ngày, kiểm nghiệm lượng galactoza bàng phương pháp Banev thì thấy lượng galactoza giảm xuống.

  • Đối với lượng urobilin tâng trong nước tiểu, uống thuốc có nghệ vài ngày sẽ thấy lượng uro- bilin trong nước tiểu giảm xuống.

  • Đối với sự tiết nước mật: Cho nước nghệ vào tá tràng sẽ thấy lượng nước mật trong tá tràng được tăng cao, nhưng lượng bilìrubin không tăng, nhưng khi lượng nuớc mật tăng nhiều, độ sánh của nước mật cũng tăng lên.

Nếu như đang cho nước nghệ vào tá tràng làm cho lượng nước mật tâng lên, thôi không cho nước nghê nữa mà cho dung địch magiê sunfat đặc vào, thì lượng nước mật vản tãng và đặc.

  • Dùng nghệ trong những bênh về gan và đường mật thì thấy chóng hết đau. Nhưng trong những trường hợp sỏi mật cấp tính thì kết quả chậm, chỉ có tác dụng từ từ.
  1. Tác dụng kháng sinh M. M. semiakin và cộng sự (Khimia antibiotikop , xuất bản lần 3,

1, 278, Nga văn) đã chứng minh curcumin I có tác dụng ngăn cản sự phát triển của vi trùng lao Mycobacterium tuberculosìs ở nồng độ 25 yf ml, ngoài ra curcumin I còn có hiệu lực đòi với Salmonella paratyphi ở nồng độ 200 Y/ml, với Staphyìỉocơccus aureus ờ nồng độ 50 Y/ml, nấm Trychophyton gypcum ở nổng độ 25 Ỵ/ml.

Theo Taniyama H. và cộng sự ự. Pharm. Soc. Japan 1956, 76, 154-157) các xeton a-p etylenic trong hệ thống vòng có khả năng khóa nhóm ‘SH của men, làm rối loạn chuyển hóa của men trong cơ thể vi trùng nói chung và vi trùng lao Mycobacterìum tubercuỉosis nói riêng. Các xeton loại này có nhiều trong nghệ.

Năm 1977, phòng vi trùng Viện chống lao và Viện đông y Hà Nội đã thí nghiệm thấy tinh dầu nghệ ức chế được sự phát triển của vi trùng lao Mycobacterium tuberculosỉs H₃₇RV ở nồng độ 1 Y/ml; nồng độ tối thiểu ức chế đối vói Ba- ciỉíus subtilis ()(*)()Candida albicans là 1/160. Tinh dầu nghệ không có tác dụng đối với Bacterium pyocyaneum và Streptococcus hemoỉyticus.

  1. Độc tính của tinh dầu nghệ DLJ₀ của tinh dẩu nghệ trên chuột nhắt trắng là 9,2ml/kg thể trọng (Bộ môn dược lý-Đại học Quân y Hà Nội, 1977).

  2. Tác dụng khác: Võ văn Lan đã phát hiện tiêm tinh nghệ có khả năng thấm qua các màng tế bào đặc biệt là vỏ sáp khuẩn lao và hủi, nó giúp cho chất màu xâm nhập vào trong các tế báo này (Bộ môn sinh lý, dược lý-Đại học y khoa thành phô’ Hổ Chí Minh-Các hội nghị y dược học quốc tế và quốc gia quý I-1977-Thư viện y học trung ương, 3).

()(*)()Theo tài liệu cổ: Nghệ vị cay, đấng, tính ÔĨ1, vào 2 kinh can và tỳ, nghệ có tác dụng phá ác huyết, huyết tích, kim sang và sinh cơ (lên da) chi huyết. Nhưng nếu âm hư fnà không ứ trệ cấm dùng; các bệnh sản hậu (sau khi đẻ) mà không phải nhiệt kết ứ cũng không nên dùng; đàn bà có thai không nên dùng. Nghệ thường được dùng trong bệnh đau dạ dày, vàng da, phụ nữ sinh nở xong đau bụng.

Liều dùng hàng ngày l-6g dưới hình thức bột hoặc thuốc sắc chia làm 2, 3 lần uống trong ngày.

Ngoài cóng dụng trên, nhân dân còn dùng nghệ bôi lên các mụn mới khỏi để đỡ sẹo, nhuộm vàng bột cary, nhuộm len, nhuộm tơ, nhuộm da.

()(*)()ỉ. Chữa thổ huyết máu cam:italic2 Nghệ tán nhỏ, ngày uống 4-6g chiêu bằng nước.

  1. Bài thuốc kinh nghiệm chữa điên cuồng (kinh nghiệm phương-Bản thảo cương mục)’. Nghệ 250g, phèn chua lOOg, tán nhò, hòa nước cháo viên thành viên bàng hạt ngô. Ngày uống 50 viên.

Uống hết hai đơn như trên thì khỏi.

Đã chữa khỏi một người phụ nữ do lo sợ quá đồ phát điên đã 10 nãm.

  1. Đơn thuốc cao dán nhọt (kinh nghiệm của Ngô Tất Tố).

Củ ráy 80g (một củ)

Nghệ 60g (một củ)

Nhựa thông 40g

Sáp ong 40g

Dầu vừng 80g

Củ ráy gọt sạch vở cùng giã với nghệ cho thật nhỏ, cho vào nấu nhừ với nhựa ihông dầu vừng và sáp ong. Lọc để nguội, phết lên giấy bản dán vào mun nhot.

()(*)()

Đông y và tây y đều dùng mật động vật làm thuốc, nhưng tây y chỉ hay đùng mật lợn, mật bò. Còn đồng y dùng mật của nhiều loài như mạt gấu, mật dê, mật lợn, mật bò, mật trăn, mật rắn, mậc gà, mật cá chcp v.v… Ngoài ra lại còn dùng cả sòi trong túi mật của con bò con trâu có bệnh nữa (ngưu hoàng).

Thống kê những cõng dụng của mật dùng trong đông y, chủ yêu ta thấy hay dùng chữa đau bụng, kém tiêu hóa, đau gan, dạ dày, ho hen, táo bón, ho gà; dùng ngoài, mật có tác dụng tiêu sưng, viêm như dùng chữa đau mắt, đòn, thương tật, chó hay rắn cắn sưng đau.

Một số mật được giới thiệu cùng với con vạt (mât rán) hay giới thiêu riêng (mật gấu); ả đây chúng tôi chỉ giới thiệu mật lợn, mật bò hiện ta còn ít sử dụng.

()(*)()

Mật lợn, mật bò có thể dùng tươi, nhưng vì khó uống và không để được lâu cho nên thường cô đặc thành cao đạc hay cao khô hoặc đem tinh chế thành cao mật bò, cao mật lợn tinh chế.

A. ()(*)()Có nhiều phương pháp hiện được áp dụng. Tùy hoàn cảnh ta có thể áp dụng một trong mấy phương pháp sau đây, đổng thời theo dõi xem phương pháp nào tốt và rẻ nhất.

ỉ. Phương pháp của Đội điều trị 10. (Dược học 1961, 2: 13): Lấy 20-30 túi mật hay hơn nữa hoặc ít hơn tùy theo lượng cao muốn có. Rửa sạch vỏ túi mật bằng nước muối 0,9%. Sau đó ngâm vào cồn 90 độ trong 1-2 phút để sát trùng. Đem cắt thùng túi mật và hứng nước mật cho chảy qua vải để lọc. Nước mật đã lọc được đem đun cách thủy, vừa đun vừa khuấy cho tới thành cao đặc. Kinh nghiệm là đun cho tới khi nghiêng bát mà cao không chảy là được.

Cao màu vàng hơi xanh, vị rát đắng.

  1. Phương pháp của Viện nghiên cứu đông y {Dược học 1964, 2; 12): Phương pháp này nhanh hơn: lấy dao kéo đã khử trùng chọc thủng túi mật, hứng vào một bát to đã khử trùng rổi. Nếu có mỡ, cần loại bỏ mỡ hoặc cho vào bình gạn, với một ít ête, lắc kỹ, mỡ tan trong ête, gạn bỏ lớp ête. Nếu xét nghiệm thấy có giun lambiia, sỏi mật thì không nên dùng phương pháp này. Lọc mật qua vải. Lấy nước phèn chua no (thêm phèn chua vào nước cho đến khi không tan nữa), nhỏ từ từ vào nước lọc mật. Nước lọc mật sẽ kết tủa. Khi nào cho thêm nưóc no phèn vào dịch

lọc mà không thấy tủa nữa là đủ phèn rồi. Rửa

tủa trẽn giấy lọc bàng nước cất để loại phèn

thừa. Rồi đặt lủa trên một đĩa sát tráng men sạch đưa vào tủ sấy, sấy ở nhiệt độ dưới 70°c cho tới khò; tán thành bột là được cao mât khô.

  1. Phương pháp cùa dược điển Pháp 1949 được áp dụng ở xí nỵhìệp dược phẩm ỉ (Dược học 1962, 1:15) cỏ thể dùng cho cà mật bò và mạt lợn.

Mât bò 1000 g

Cồn 90” 1000 g

Cồn 70" 200 g

Lọc mât bò qua rây. Thêm cồn 90° vào, khuấy đều. Khuấy như vậy 4 đến 5 lần rồi để yên (rong 2 ngày. Gạn lấy phần trong ở trên. Phần tủa lọc qua giấy lọc x.ếp nếp. Trong khi lọc cần đây kín đế tránh bay hơi cồn. Rửa tủa còn lại trong bình và trên giấy lọc bằng 200g cồn 70u dìmg làm nhiều lần, để lấy hết muối mật. Hợp các dung dịch cồn lại và cồ trong áp lực giảm, nhiệt độ dưới 50°c cho tới độ cao chắc. Ta sẽ dược cao mật bò màu vàng lục nhạt vị đáng hơi ngọt.

Muốn tinh chế hơn thì trước khi cỏ thu hổi cồn, cứ mỗi lít thêm vào 5g than hoạt và 5g cao! in đã rửa sạch và tiệt trùng. Lắc trong vài giờ và để láng trong 2 ngày. Lọc trong rồi mới tiến hành cô trong áp lực giảm ở nhiệt độ dưới 50"C cho tới khô. Tán bột. Đựng trong lọ kín. Cao này gọi là cao mật bò tinh chế khô, màu vàng nhạt, rất dẽ hút ẩm, vị nhạt rồi đắng, hít vào gây hắt hơi.

Phương pháp này cầu kỳ, chỉ có thể áp dụng ở một sô cơ sớ. Tại địa phương ta có thể áp dụng phương pháp của đội điều trị 10 hay Viện nghiên cứu đông y.

()(*)()Trong cao mật bò chế như trên có hỗn hợp natri glycocholat và natri taurocholat, sắc tô’ mât biliru- bin và bilivecdin, cholesterol, axit taurodesoxychoỉat (hay taurochenodesoxycholat) và một số muối mật khác như muối cholat và glycođesoxycholat (hay glycochenodesoxycholat).

Trong mật lợn chủ yếu gổm các muối cholat như hyodesoxycholat, glycocholat, glycodesoxycholat (hay glycochenodesoxycholat), taurocholat, taurodesoxycholat cholesterol, và một sổ (hay taurochenodesoxycholat) sắc tố mật như bilirubin.

  1. ()(*)()Từ lâu người ta đã chứng minh mật lợn, mật bò có tác dụng kích thích nhu động ruột, hấp thu ở vùng tá tràng, I1Ó kích thích rất mạnh sự bài tiết mật, vừa có tác dụng thông mậ((chola- gogue) vừa có tác dụng kích thích tiết mật (choleretique). Do sự bài (iết mật này, nó giúp và cùng-với dịch tụy tiêu hóa chất béo.

Mật còn là một chất sát trùng đường ruột.

Trên thực nghiệm, mật gây tiêu máu nhưng không gây ngứa.

Do những tính chất trên, uổng mật vào ngoài tác dụng của mật còn có tác dụng là một chất kích thích trong những trường hợp rối loạn đường mật và đường tiêu hóa, thiểu năng gan và tụy, táo bón kèm theo lên men thối ở ruột, viêm ruột kết.

  1. Gần đáy, tại Trung Quốc đã có những công trình nghiên cứu tác dụng của mật lợn đối với bệnh ho gà và bệnh ho.

Trong Ống nghiệm, mật lợn có tác dụng ức chế mạnh đối vói trực trùng ho gà Bacilus pcr- tussìs.

Muổi natri cholat, thành phần chú yếu của mật lợn có tác dụng đối với ho: Dùng điện cảm ứng kích thích thần kinh yết hầu gây ho phản xạ trên mèo đã gây mê, sau đó tiêm natri cholat vào tĩnh mạch đùi thấy có tác dụng giảm ho rõ rêt.

Tiêm mitri cliolat vào tĩnh mạch đùi của thỏ làm thí nghiệm phản xạ trẽn phổi, thấy có tác dụng ức chô’ trung khu hô hấp.

Trên phổi cô lập của chuột lang, natri cholat làm dãn cơ trơn tiểu phế quán.

Ngoài ra natri cholat còn có tác dụng chống co giật do pilocacpin gây nên. Vậy natri cholat, thành phần chủ yếu trong mật lợn, có tác dụng giảm ho và chống co giật.

()(*)()Mật bò, mật lợn thường được dùng làm thuổc chữa táo bón, bênh về gan, mật, bệnh về đường tiêu hóa.

Ngày dùng 0,50g đến lg (uống) hoặc thụt (4g trong 250ml nước).

Gần đây mậi lợn được dùng chữa ho gà dưới dạng xirô có chứa 20mg cao mật lợn trong Iml xirố: Ngày uống 3 lần, mỗi lần trẻ em dưới 1 tuổi uổng nửa thìa cà phê, 1-2 tuổi mỏi lần uống 1 thìa cà phê, 2-3 tuổi mỗi lần 1 thìa cà phê rưỡi, trên 3 tuổi mỗi lần 2 thìa cà phê rưỡi. Có thể dùng dưới dạng thuốc viên, mỗi viên chứa 50mg cao bột mật lợn toàn phần. Ngày 3 lần, mỗi lần trẻ em dưới 1 tuổi uống 1 viên; 1-2 tuổi uống 2 viên; 2-3 tuổi uống 3 viên; trẽn 3 tuổi uống 5 viên.

()(*)()Viên mật lợn trị táo bónitalic2 của Viện đông y: Mật lợn chế theo phương pháp của Viện đã giới thiệu ở trên sốy khô tán bột, trộn với tá dược làm thành viên, mỗi viên nhỏ nặng 0,1 Og. Người lớn uống mỗi ngày 6 đến 12 viên chia làm 1 hay 2 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ hay sáng sớm. Nếu táo bón nhiểu có thể uống lúc đầu 20 viên rồi giảm dần xuống.

Viền mật của Đội điểu trị)0 và Bệnh viện Nam Định: Cao mật bò hay mật lợn lOOg, lưu hoàng rửa lại lOOg, bột hoạt thạch 150g, tĩnh dầu bạc hà 20 giọt. Cao mât bò chế theo phương pháp giới thiệu trên, thêm các vị thuốc khác vào ròi làm thành viên 0,15g. Ngày uống từ 20-30 viên chia làm 2 hay 3 lần uống. Dùng trong vòng 10 đến 30 ngày tùy theo bệnh nạng nhẹ. Chữa viêm mật, viêm gan, vàng da, rối loạn tiêu hóa, chậm tiêu, phân sống, láo bón.

Viên lô đảm (biệt dược Xí nghiệp dược phẩm I): Mỗi viên có cao mật tinh chế 0,50g, lô hội (hoặc phan tả diệp) 0,08g, phenolphtalein 0,05g, tá dược vừa đủ 1 viên. Trị táo bón, ăn uống khó tiêu, do thiểu mật, vàng da, ứ mât, suy gan, nhiễm trùng đường ruột, sỏi mật. Người lớn ngày uống từ 2 đến 4 viên chia làm 2 lần uống. Uống sau các bữa ăn, nuốt chửng với một chén nước, không nhai vì rất đẳng.

()(*)()

Còn gọi là toán bàn tử, chè bọt (Xuân Mai- Hà Tây)

Tên khoa học Glochidion erỉocarpum Champ.

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Tên bòn bọt có thể do cây được nhân dân dùng chữa bệnh trẻ em đi ỉa có bọt. Cũng có thể do cây lắc với nước cho nhiều bọt.

()(*)()Bòn bọt là một loại cây nhỏ, lá mọc so le, cành non có màu đỏ tím, rất nhiều lổng ngắn, trắng, cành già có màu xanh nhạt. Phiến lá nguyên, hình trứng, thuôn, đáy lá tròn, đâu lá thuôn nhọn, dài 6-8cm, rộng 2-3cin» hai mặt phiến có nhiều lông ngán, màu trắng, mặt dưói nhiểu lông hơn, thoạt trông giống như lá mơ lông, cuống lá ngắn 1-1,5mm, có 2 lá kèm nhỏ hình như 2 gai nhọn, mềm. Hoa rất nhỏ, đơn tính, mọc ở kẽ lá, thành cụm 3 hay 4 hoa một, 1 hoa đực, 2 hay 3 hoa cái. Hoa đực có cuống ngắn, màu trắng, dài 5mm; với 6 lá đài màu vàng nhạt. Đường kính của lá đài chỉ chừng 5mm, trên lá đài cũng có nhiều lông nhỏ màu trấng. Hoa cáì không có cuống, nhỏ hơn. Quả hình bánh xe, khi chín có màu đỏ, 4 đến 5 lá noãn. Mùa hoa vào các tháng 3-4 (Hình 169).

TODO: thêm hình ảnh

Hình 169. Bòn bọt - Gỉochidìon eriocarpum

()(*)()Mọc hoang ở khắp nơi, nhưng hiện nay mới thấy khai thác ở Bắc Giang. Hái cành và lá về phơi khô, để dành khi cần dùng đến. Không cần chế biến gì đặc biệt.

()(*)()Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi thấy có saponin, loại sterolic tanin. Những chất khác chưa rõ (Đỗ Tất Lợi, 4-1964).

Trong một loài bòn bọt Glochidion macrophyỉlum Benth. người ta chiết được ữiedelan 3-ol, glochidon C₃₀H₄₈O, glochidonol CtoH4S0,, glochidion C₃₀H₅₀O₂, Ị3 sisosterol. Lá chứa 3 |3 friedelan, p sitosterol (/, Chem. Soc. (C), 1971, 1004 và Phytochemistry 1970, 9, 1099).

và chết sau 2 ngày vào viện. Điều trị 3 ca do phù thiếu dinh dưỡng, khỏi cả ba. Các tác giả đã đi tới kết luân rằng bòn bọt’ có tác dụng lợi tiểu rõ rệt, đặc biệt trên phù thận kinh và phù do thiếu dinh dưỡng, làm phù rút nhanh chóng (thường có tác dụng từ ngày thứ 2 thứ 3 trở đi), sau khi rút hết phù, số lượng nước tiểu có rút xuống, nhưng khqng phù ưở lại; trên phù thận sau khi khòi phù, trong nước tiểu vẫn còn những chất bất thường, tuy định lượng có giảm hơn so vói

Glochidon 11-0 H23-CH₃

20(29) 3a23

R^a-OH K2.7 = CH₂OH

()(*)()Có nơi dùng lá giã vắt láy nước uống, bã đắp lên vết rắn độc cắn. Nếu chưa cứng hàm có thể nhai nuốt nước. Chỉ mới thấy dùng trong phạm vi nhân dân. Bệnh viện quân y 108 và Bệnh viện Bác Giang dùng chữa một số trường hợp phù thận do thiếu đinh dưỡng và phù suy tim có kết quả. Tuy những trường hợp theo dõi chưa nhiều, nhưng cách dùng đơn giản, kết quả rất khả quan.

Cách dùng như sau: lOOg lá bòn bọt khô, sắc với 900ml nước, cô còn lại 300ml. Ngày đùng trung bình lOOml nước sắc tương đương với hơn 30g lá khô. Đã dùng điều trị 11 trường hợp phù thận kinh, khỏi phù 9 ca, còn 2 ca chết do phù toàn thân có cổ trướng bị phù đi, phù lại nhiều lần, lâu ngày urê huyết đã lên tới trên lg/lít: chữa 8 ca phù suy tim khỏi 3, không khỏi 4, 1 ca chết do bệnh van tăng mạo vào viện đã nặng lúc chưa điểu trị. Phù suy tim cho kết quả thất thường: Đối với trường hợp suy tim mới, còn bù trừ được thì có kết quả, còn trong phù do suy tim lâu do các bệnh van tim thì không thấy có kết quả. Thời gian rút phù trung bình là 15 ngày với những ca phù toàn thân, là 7 ngày với những ca phù nhẹ ở chân và mặt. Các tác giả nhận xét không thấy biến chứng gì khác vể lâm sàng trong khi sử dụng bòn bọt {Lê Quang Mỹ và Huệ Liên, Bênh viện Bắc Giang, Y học thực hành 8- 1963).

Cần chú ý nghiên cứu thêm.

Chú thích:

Có tác giả xác định cây này là Gỉochidion veỉutinum Wight. cần phải kiểm tra lại.

Trung Quốc còn dùng cây Glochidion puberum (L.) Hutch, cùng họ, cùng công dụng.

Asíerocephalus cochinchinensis ()(*)()

Thuộc họ Cúc Asteraceae ịCompositae).

Tên thông thường của cây này là chỉ thiên, tuy nhiên tai một số vùng Nam Bộ và Trung Bộ người ta gọi là cây lưỡi mèo. Mội số người ở miền Nam dùng với tên bồ công anh. Tại một sô’ tỉnh miền Nam Trung Quốc (Quảng Tây), người ta cũng dùng cây này với tên bồ công anh (xem vị này), cần chú ý tránh nhầm lẫn.

()(*)()Chì chiên là một loại cỏ cứng, cao 20-40cm. Thân mang nhiều cành ngay từ gốc; gần như không có lá, cànli nhỏ mọc lan ra mặt đất, có lông. Lá gổc mọc vòng, hoa thị ở sát đất; phiến lá dài 6-12cm, rộng 3“5cm, phía dirớí hẹp lại thành cuống rộng và ôm vào thân, mặt trên và mặt dưới đểu có lòng cúng màu tráng nhạt, lá mọc ở thân hẹp, nhỏ, tất cả các lá đều có răng cưa ở mép. Cụm hoa hình đầu gồm 4 hoa màu tím nhạt mọc dạng ra, thành nhánh dài 5-10cm, tận cùng bời một xim đơn. Quả hình thoi có 10 cạnh lồi. Chùm lông có sợi cứng, xếp thành một hàng, đểu, phình rộng ở phía dưới (Hình 170).

()(*)()Cây chỉ thiên rất phổ biến ở Việt Nam, từ Nam đến Bắc. Thường mọc hoang ờ ven đường cái hay ờ những bãi cò khô. Còn mọc ô nhiều nước châu Á-miền Níim Trung Quốc, Malaixia, Philipin, Ân Độ, Inđônêxya, Miến Điện, Thái Lan v.v…

Thường người ta hái toàn cây vào lúc đang có hoa. Hái về thái nhò, sao vàng cho hơi khô vàng mà dùng. Có khi người ta chỉ hái về phơi khô dùng dẩn.

()(*)()ít thấy tài liệu nghiên cứu. Từ rẻ chỉ thiên, người la đã chiết được một tinh thể không màu có tính chất glucozit. Không có ancaloit. Hoạt chất chưa rõ.

()(*)()Chỉ thiên mới được dùng trong phạm vi nhân dân.

Theo đông y, chỉ thiên có vị đắng, tính lạnh không có độc. Có tác dụng giảm sốt, giải độc, đùng uống hay giã nát đắp lên mụn nhọt.

Thường dùng chữa những triệu chứng nhiệt

TODO: thêm hình ảnh

Hình 170. Chỉ thiên - Eỉephantopus scc/ber

như đổ máu cam, nôn ra máu, tiểu tiện khó khăn, sốt.

Liều dùng trung bình: Ngày uớna 50g tươi sao vàng sắc với 3 bát (600ml) nước, cô đặc còn 200ml, chia làm nhiều lẩn uống trong ngày.

Dùng ngoài thì giã nát đắp lên mụn nhọt, không kể liều lượng.

Những bệnh có tính chất lạnh (hàn) không dùng được.

Một số người vì nhám đây là bồ cỏng anh cho nén dùng như bồ công anh đế chữa mụn nhọt, giã đắp hoặc sắc uống. Cần chú ý nghiên cứu.

Chú thích:

Gần giống cây chỉ thiên, có cây Elcphantopus spicatus Aubl. cùng họ, không có tên, thường mọc hoang ở hè một số đường phố cùa Hà Nội. Cây này cao 20-60cm, cứng hơi có lông hay nhẩn. Lá mọc so le phía gốc cũng mọc thành hoa thị. Phiến lá dài 9-14cm. Cụm hoa mọc thành bông gồm nhiều cụm hoa hình đầu, mồi cụm hoa hình đầu có từ 2 đến 6 hoa nhỏ màu trắng. Không thấy nhân dân sử dụng.

Còn gọi là dưa leo, tra sac (Cămpuchia), cucuber (Anh), concombre (Pháp), hồ qua (Trung Quốc).

Tên khoa học Cucumis sativus L.

Thuộc họ Bí Cucurbitaceae.

()(*)()Cây mọc bò, toàn thân có lông. Thân có nhiều cành, có góc. Lá mang cuống, phiến có từ 3-5 thùy hình hơi ba cạnh, mép có lông đứng. Hoa đơn tính, màu vàng, mọc 2-3 ở nách lá. Quả hình (huôn dài, hình trụ hay hơi ba cạnh, nhẵn hoặc hơi có bướu nhỏ, có thể dài 10-36cm. Màu lục hay lục vàng nhạt, vàng hay vàng nâu. Hạt nhiều, hình trúng, trắng, dai, bóng { Hình 171).

()(*)()Tróng ở khắp các tỉnh trong nước ta. Còn thấy trồng ở nhicu nước nhiệt đới cũng như ôn đới. Lấy quả dùng làm rau ãn hay chế mỹ phẩm. Có thể hái quả ngay từ lúc quả còn xanh non (comichon) dùng ngâm dấm hay đợi thật lớn và chín vàng.

()()()Dưa chuột chứa tới 95-97% nước, 0,8% protit, 3% gluxit, 0,7% xenluloz, 0,50% tro, trong đó 23mg% can xi, 27mg% p, lmg% Fe. Dưa chuột còn chứa vitamin A (caroten) với tỷ lệ 0,30mg%, vitamin BI 0,03mg%, B2 với tỷ lệ 0,04mg%, vitamin pp 0,1 mg% và vitamin c 5mg%, italic1[Bảng ihành phẩn hóa học thức ăn Việt ()()()học, 1972).

Sách “Bí mật và đức tính cùa cây thuốc” (Se- crets et vertus des pỉantes médicinaỉes-Seỉection du Readerưs Digest, 1977) còn ghi thêm: “ngoài vitamin A và c, trong dưa chuột còn chứa một lượng quan trọng sắt, mangan, iot và thiamin”.

Vỏ dưa chuột có vị đắng do chứa colocynthine.

Hạt dưa chuột chứa một ancaloit gọi là hy- poxanthine có tác đụng trừ giun.

()(*)()Theo tài liệu cổ (Bản thảo cương mục-Nam dược thần hiệu) Dưa chuột có tên hổ qua hay hoàng qua với những tính chất sau đây:

Quả dưa chuột có vị ngọt, tính hàn (lạnh) hơi có độc không nên dùng nhiều có tác dụng thanh

Hình Ỉ7Ỉ. Dưa chuột - Cucumis xativus

nhiệt, giải phiển, lợi thủy đạo (tiêu nước).

Lá dưa chuột vị đáng, tính bình, hoi có độc, giã nát vắt lấy nước uống vào nôn ra.

Dưa chuồt chủ yếu được trồng để làm thức ãn, làm thuốc ở Ân Độ và Ai Cập ít nhất từ trên 4,000 năm. Việc sử dụng này được lan truyền từ những nước ấy đến các dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ và Latinh,

Về mặt thức ăn, những thầy thuốc dinh dưỡng cho ràng dưa chuột ăn sổng khó tiêu và những người có dạ dày dể mẫn cảm khó chấp nhận. Nhưng dưa chuột là một món ăn mát và lợi tiểu (phù hợp với kinh nghiệm cổ).

Đặc biệt người ta dùng dưa chuột trong mỹ phẩm và chữa bệnh ngoài da từ rất lâu đời: cát dưa chuột thành từng lát mỏng đắt lên da mặt chữa những vết nhãn, da xù xì, những vết tàn nhang, một số vùng ở nước ta nhân dân dùng những quả dưa chuột non có thêm đưổmg chữa lỵ, nhiệt và ỉa chảy (kinh nghiệm này có ghi trong Bản tháo cương mục từ thê’ kỷ 16).

  1. ()(*)()Cổ họng sưng đau:italic2 Chọn một quả dưa chuột già, bỏ hết hột. Thêm mang tiêu vào cho đầy ruột quả, trộn đều phơi trong mát cho khô. Ngậm từng ít một (theo Y ỉấm tập vểu).

  2. Bụng chướng, chân tay phù nề: Lấy một quả dưa chuột già chín, loại bỏ hạt, thêm một ít dấm chua, nắu chín nhừ. Cho ăn Lúc bụng đói. Bệnh nhân sẽ đái nhiều và hết phù nề (Thiên