Còn gọi là điền cơ vương, điền cơ hoàng, địa nhĩ thảo, dạ quan môn, nọc sởi, bioc lương, châm hương.

Tên khoa học Hypericum iaponicum Thunb.

Thuộc họ Ban Hypericơceae,

Tầ dùng toàn cây tươi hay phơi hoặc sấy khổ làm thuốc.

Tên điền cơ hoàng vì cây này hoa màu vàng, thường mọc đầy ở những ruộng hoang (điển là ruộng, cơ là nén gốc, hoàng là màu vàng), tên dạ quan môn vì cây này vào chiều tối thì cúp lại (dạ là tối, quan là đóng, môn là cửa).

A. Mò tả cây

Ban là một loại cỏ nhỏ, thân nhỏ mang nhiều cành, cao chừng 10-20cm, thân nhẵn. Lá mọc đối, hình bầu dục, không cuống, trên phiến có những điổm chấm nhỏ, soi lên sáng lại càng rõ. Phiến lá dài 7-10mm, rộng 3-5mm. Hoa nhỏ mọc màu vàng, mọc đơn độc ở kẽ lá, có cuống dài 4- 5mm. Lá bắc và lá đài nhẵn (do đó khác loài Hypericum nepalensè). Quả nang hình trứng, dài 4mm, mở bằng 3 van dọc, thai tòa trắc mô ờ cạnh các van. Hạt hình trụ, hơi thon có vạch dọc, chiều dài chừng lmm (Hình 418).

B. Phàn bố, thu hái và chế biến

Cây ban mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam, hay gặp tại những ruộng mạ, ruộng bò hoang, hơi ẩm, mùa xuân cây bắt đầu xuất hiện, mùa

TODO: thêm hình ảnh

Hình 418. Cây ban - Hypericum iaponicum

hạ nở hoa, sang thu đông lại lụi hết.

Có mọc tại Trang Quốc (cũng thấy dùng làm thuỐc-Quảng Tây), các nước khác vùng nhiệt đới và á nhiệt đới.

Thường hái về dùng tươi, hái toàn cây cả rễ, có khi phơi hay sấy khô mà dùng. Không phải

chế biến gì khác.

C. Thành phần hoá học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu

Trong loài Hypericum perỷoraium L. mới đây người ta tỉm thấy có imanin, imanin A và novoimanin.

D. Công dụng và liều dùng

Cây ban còn là một vị thuốc dùng trong phạm vi nhân dân.

Tính chất theo đông y thì cây ban có vị đắng, ngọt, tính bình, không độc, vào hai kinh can và tỳ. Có tác dụng thanh thấp nhiệt, tiêu thũng trướng, khứ tích tiêu thực (chữa tiêu hoá kém, đầy) dùng chữa cam tích, thấp nhiệt hoàng đản,

dùng ngoài chữa rắn cắn, bị thương, sưng đau.

Thường thấy nhân dân’đùng chữa những vết do đỉa cắn, sâu răng, hôi mồm, ho, sởi.

Cách dùng: Nhổ một nắm cả thân rể, lá rửa sạch, sắc lắy nước (30-40g trong lOOml nước). Dùng nước này súc miệng thường xuyên chữa hôi miệng sâu răng. Dùng ngoài không kể liều íượng.

Đơn thuốc thường dùng có cãy ban

Chữa rắn độc cắn:

Giã nát cây ban, thêm ít băng phiến đáp lên vết rắn cắn đã được chích rộng ra.

Chữa hoàng đản:

Cây ban 40 hoặc 60g khò sắc uống.

BỜI LỜI NHỚT

Còn gọi là mò nhót, sàn thụ, sàn cảo thụ, bời

lời.

Tên khoa học Litsea gỉutinosa c. B. Rob. (Liísea sebi/era Pers.).

Thuộc họ Long não Lauraceae.

A. Mò (ả cây

Cây cao có thể tới lOm. Nhiều dạng, vỏ thân nâu, không mùi, không vị, trong có chắt nhớt, cành trưởng thành hình trụ, nhẵn cành non có cạnh> nhiểu lông. Lá mọc so le, thường mọc thành cụm ở đầu cành, hơi dai, màu xanh lục đậm, mặt trên bóng, mặt dưới có lông, kích thước rất thay đổi, dài 7-20cm, rộng 4-10cm, hình bầu dục hay thuôn dài, phía đáy lá tròn hoặc nhọn, đầu nhọn hay tù; cuống lá có lông, dài 1,5-5cm. Hoa tụ từng 3-6 thành tán nhỏ trên 1 cuống chung dài l-3cm có lông; cuống của mỗi hoa dài 2-3mm. Quả hình cầu to bằng hạt đậu, màu đen, đính trên cuống phình ra. Mùa quả vào tháng 7-8 (Hình 419).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện nay cây này chua được trồng nhiều. Chủ yếu mọc hoang, nhiểu nhất ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, một só ít mọc ở VTnh Phúc, Phú Thọ, Hà

Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh. Còn mọc ở miển nam Trung Quốc, Ấn Đô, Malaixia, Inđônéxya, Cămpuchia. Trồng bàng hạt hay dâm cành. Sau 5-6 năm bắt đầu có quả.

Người ta dùng gỗ cây này để Lấy chất nhầy dùng trong kỹ nghệ làm giấy, làm hương nén: quả được thu hái vào tháng 7-8 để ép dẩu làm

nến và nấu xà phòng, c. Thành phần hoá học

Tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất ở vỏ thân có chứa một chất nhầy dính, thường dùng để dính bột giấy hay hương thắp.

Hạt chứa 45% chất dầu béo đông đặc ờ nhiệt độ thường, thành phần chủ yếu của dầu là laurin và olein.

Gỗ non có chứa ít tinh dầu nhưng khi già tỷ lệ tinh dầu ít đi.

D. Công dụng và liều dùng

Vỏ giã nát dùng đáp lên những nơi sưng, bỏng, vết thương, có nơi dùng cả lá giã nát đắp.