Còn gọi ỉà sơn thục.

Tên khoa học Homaỉomena aromatica (Roxb). Schott (Caỉla aromatica Roxb). Homalomena occulta (lowa) Schott.

Thuộc họ Ráy Araceae.

Thiên niên kiện (Rhìĩoma Homalomenae) là thân rễ phơi hay sấy khô của cây thiên niên kiện.

Tên thiên niên kiện vì nguời ta cho ràng uống vị thuốc này thì nghìn năm khoẻ mạnh (thiên là nghìn,

niên là năm, kiện là khoẻ mạnh).

A. Mó tả cây

Thiên niên kiện là một cây sống lâu năm, có thân rễ mập, màu xanh, đường kính l-2cm. Lá mọc so le, có cuống dài từ 18 đến 25cm, màu xanh, mềm, nhẵn, phía dưới cuống nở rộng thành bẹ có màu vàng nhạt; phiến lá hình đấu mũi tên, dài ll-15cm, rộng 7-Ucm, đầu nhọn, phía dưới hình cánh tên, mép nguyên, mặt trên lá có màu đậm hơn, hai mặt đều nhẵn, gân ở hai mép dểu hướng về phía đỉnh lá. Cụm hoa mẫm nở vào tháng 3-4. Quả mọng (Hình 381, Hm

TODO: thêm hình ảnh

Hình 381. Thiên niên kiện - Homaỉomena aromatica ỉ. Cành mang hoa và lá; 2 Cụm hoa; 3. Mầu thân

44,13).

B. Phân bố, thu háỉ và chế biến

Thiên niên kiện mọc hoang rất nhiều ờ các miền rừng núi của ta. Cây ưa những nơi ẩm ướt, cạnh suối hay dọc theo suối. Ta khai thác quanh năm. Một năm có thể thu mua tới 3.000 tấn.

Hái về rửa sạch đất, bỏ rễ con, phơi hay sắy khô là được.

C. Thành phần hoá học

Trong thiên niên kiện của ta có từ 0,8-1% tinh

dầu tính theo rễ khô kiệt.

Theo E. Gildmeister và Fr. Hoffmann, trong rễ tươi của một toài thiẻn niÊn kiện Homaiomena rubescens có chừng 78-81% đậ ẩm, 0,8-1,2% tinh dầu (cất theo hơi nước thường) hoặc 0,88-1,25% tinh dầu (cất theo hơi nước có áp suất). Như vậy, tính theo.rẽ khô sẽ lên tới 5%.

Tinh dầu thiên niên kiện có màu vàng nhạt hoặc màu nâu vàng nhạt, mùi ihơm dễ chịu.

Tinh dầu có tỷ trọn^ở 30"C: 0,886X (loại 1) hoãc 0,8920 (loại 2), oỆ —14"50 và

-9"33, 0^=1,45908 và 1,4621.

Tan trong 4 thể tích cổn 70° ở nhiệt độ 30°c.

Tỷ lệ andehyt và xeton 15-20% (định lượng bằng phương pháp bisuntìt).

Phản ứng phenol bàng clorua sắt III: Âm tính.

Tìm phản ứng andehyt bàng dung dịch Fehling: Dương tính.

Trong tinh dẩu có chừng 40% !. linalola, một ít tecpineola và chùng 2% este tính theo linalyl axetat; ngoài ra còn sabìnen, limonen, (X teepinen, axetíindehyt, andehyt propionic.

Theo M. R. Pallaud tỷ lệ linalola là 60% và một ít linalyl axetat và íecpineola.

D. Cồng dụng và liều dùng

Theo tài liệu cổ, thiên niên kiện vị đắng, cay, hơi ngọt tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng khử phong thấp, mạnh gân cốt. Dùng chữa phong thấp, khớp xương đau nhức, co quắp, tê dại.

Hiện nay thiên niên kiện là một vị thuốc nhản dân dùng chữa tê thấp, bổ gân cốt, giảm đau nhức dùng trong bệnh người già bị đau người, đau dạ đày, đau khớp xương. Kích thích giúp sự tiêu hoá. Ngày dùng 540g dưói dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Là nguyên liệu chế tinh dầu. Tinh dầu thiên niên kiện được dùng trong kỹ nghệ nước hoa và làm nguyên liệu chiết suất línalola.

Chú thích:

Tên khoa học của thiên niên kiện có thể chưa thật chính xác. Theo Phạm Hoàng Hộ (1970, Cây cỏ miền nam Việt Nam, 2: 726) thì những cây được Gagnepain mô tả dưới tên Homalomena aromatica trong Thực vật chí Đông Dương (tập 6: 1114) là thuộc loại Homaỉomena occulía (Lour.) Schott.

Cỏn gọi là củ khúc khác, củ kim cang.

Tên khoa học Smiỉax gỉabrơ Roxb. (Smilax hookcri Kunth).

Thuộc họ Hành tỏi Liliaceơe.

Thổ phục linh (Rhizoma Smiỉaàs) là thân rễ phơi hay sấy phò của nhiều cây thuộc chi Smilax, trong đó có cây Smiỉax gỉabra.

A. Mô tả cây

Thổ phục linh hay cây khúc khắc (Smiỉax gla- bra) là một loại cây sông lâu năm, dài 4-5m, có nhiều cành nhỏ, gầy, không gai, thường có tua cuốn dài. Lá hình trái xoan thuôn, phía dưới tròn, dài 5- 13cm, rộng 3-7cm, chác cứng, hơi mỏng, có 3 gân nhỏ từ gốc và nhiểu gân con. Hoa mọc thành tấn chừng 20-30 hoa. Cuống chung chỉ ngắn chừng 2mm, cuông riêng dài hơn, chừng lOmm hay hơn. Quả mọng, hình cẩu, đường kính 6-7mm, hơi 3 cạnh, có 3 hal. (Hình 382, Hm25,2).

B. Phân bó, thu hái và chê biên

Mọc hoang khắp noi ở nưóe ta. Thu hoạch quanh năm, nhưng tối nhất vào thu đổng. Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ nhỏ rửa sạch, đang còn ướt thái mỏng (cho dễ thái), phơi khô; có khi người ta ngâm nước nóng ít phút rồi mới thái cho dề hơn. Có nơi lại để nguyên củ phoi khò.

C. Thành phần hoá học

Theo Trung quốc Ihờ nông dược chí (1959) thì trong thổ phục linh có saponin, tanin, chất nhựa.

D. Công dụng và liểu dùng

Thổ phục linh là một vị thuốc được dùng cả trong đóng y và tây y (lây y dùng với tên Salsepareiỉlc làm thuồc tẩy máu, làm ra mồ hôi, chữa giang mai…)

Theo tài ììệu cổ đông y thì thổ phục linh vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 2 kinh can và vị. Có tác dụng khử phong thấp, lợi gân cổt, giải độc do thủy ngân. Chữa đau xương, ác sanỉí ung thũng.

Hiện nay thổ phục liiih là một vị thuốc:

I) Được dừnạ trong nhân dân để tẩy độc cơ thể, bổ da dày, khoé gân cốt. làm cho ra mồ hôi, chữa đau khớp xương.

Liều dùng hàn 2 ngày 10-20g dưới dạng thuốc sắc.

Có khi dùng với liều cao hơn.

  1. Làm nguyên liệu chế nước ngọt giải khát tại Mỹ và những nước chịu ảnh hưởng của văn hoá phong tục Mỹ. Người ta đùng các loài thổ phục linh Smiỉax medica, s. aristolochỉaeỷoỉừi Mill nguồn gốc ở Mêhicô, s. Oìiĩata Hook. f nguổn gốc ở Honduras và Braxin để chế nước giải khát đóng chai với tên là sansơ parfly (salsepareìlle), còn có tên nước xá xị (tên loại nước uống này ở miền nam nước ta thường gọi). Theo thói quen của nhân dân một số nước châu Mỹ người ta uống những loài thổ phục linh này vói mục đích giải khát, tẩy độc cơ thể, giúp sự tiêu hoá. Nhu cầu những loài thổ phục linh để làm nước giải khát rất lớn, vì tiêu thụ không những chỉ ở riêng những nước như Mỹ, Mêhicô… mà còn lan ra rất nhiều nước khác ở chầu Á, châu Mỹ Latinh w…Do nhu cầu tàng lên mà cây này hầu như chưa được trồng, nguồn cây mọc hoang dại khống đủ, cho nên người ta thay thế bằng một số nguyên liệu khác và làm thơm bằng một hỗn hợp tinh dẩu có mùi đặc biệt nhưng vẫn mang tên sansơ parây hay
TODO: thêm hình ảnh

Hình 382. Thổ phục linh ■ Smilax íỊlabra

Sacsapogenin

xá xí. Nhũng hãng nước ngọt giải khát ở miền nam nưóc ta trước đây vẫn phải nhập những toại nguyên liệu cô đặc này từ nuớc ngoài về pha nước rồi đóng chai. Chúng tôi cho rằng chúng ta nên nghiên cứu thay thế loại nước uống này bằng những nguyên liệu hoàn toàn do ta sản xuất, những loài thổ phục linh có sẩn ở nước ta và giữ nguyên hương vị tự nhiên của nó hoặc tìm một loại hương thơm mà ta có sán nguyên liệu lại hợp với sở thích của nhân dân ta, không cần và không nên tìm tòi những hương vị trước đây vì đó là những hương vị hoàn toàn nhân tạo khòng phải hương vị tự nhiên của thổ linh phục. Nhản dân ta trước đây vẫn thường uống nước kìm ngân trộn với khúc khắc trong mùa hè để trừ rôm sẩy, mụn nhọt. Như trên ta đã thấy, khúc khắc là tên khác của thổ phục linh.

Bài thuốc kinh nghiệm có thổ phục tinh.

Năm 1961, Khoa da liẻu Quân y viện 108 có dùng chữa bệnh vẩy nến (psoriasis) bằng đơn thuổc sau đây:

Hạ khô tháo nam (cây cải trời) (Blumea subcapitata) 80-120g. Thổ phục linh 40-80g. Cả hai vị sắc với nước (500ml) trong 3 giờ ở nồi hấp 150"C, đuợc 300ml chia 3 hoặc 4 lần uống trong ngày.

Đã đùng điều trị 21 người khỏi hẳn nhưng có phối hợp ghép Philatởp, 3 trường hợp đỡ 70-80%,

1 trường hợp điều trị dở dang. Thời gian điều trị trung bình là 79 ngày (ngắn nhất 23 ngày, dài nhất 118 ngày).

Trong khi uống thuốc có phối hợp bôi nhũng thuốc như thuốc mỡ salixylic 5%, crizôphanic 5%, dầu Cađơ (huile de Cade) 10%, mỡ Saburớ (Sabouraud).

Chú thích:

Trong đông y và tây y đểu còn dùng một số loại Smilax nữa như Snúlax medìca, Schlecht et. Cham, Smiiax ornata Lem, Smilax officinaỉis H. B. K. v.v… làm thuốc tẩy độc cơ thể, ra mồ hôi, chữa giang mai.

Với liều nhỏ, nó còn kích thích sự tiêu hoá, nhưng đổi với liều quá cao nó có thể gây nôn mửa, biếng ăn v.v…

, Trong các loại Smiỉax dùng trong đông tảy y, người ta đã nghiên cứu thấy các chất tinh bột, rát ít tinh dầu, nhựa và một sô’ chất saponozit, như sacsaponin CJ5H47Oir

Sacsaponin hay sacsaponozit có tinh thc, độ chảy 238°-24ơ’C, a^–66u dễ tan trong nước, ưong rượu nóng, rất khó tan trong ête, khi thủy phân cho glucoza và sacsapogenin có cấu trúc steroit, nếu thủy phân bằng axit clohydric 5% sẽ cho sacsapogenin, 2 phân tử glucoza và một phân tử ramnoza. Sacsapogenin cũng có tinh thể, độ chảy 199-199U5C tan trong cồn hay axeton, có thể kết tủa với digitonin.

Sacsapogenin là một nguyên liệu để tổng hợp hocmon và coctizon.

  1. Ở các tỉnh phía nam đang nói rất nhiều về một cây gọi tà cây xá xị. Tiện đây, chúng tôi xin giới thiệu những kiến thức thu thập về cây này ở phần tiếp theo sau.