Tên khoa học Caulis Cynomorli-Herba Cynomorli

Vị tích dương còn có tên địa mao cầu là thân thịt phơi hay sấy khô của cây tích dương- Cynomorium cocineum L. thuộc họ Tích dương Cynomoriaceae.

A. Mô tả cây

Tích dương là một loại cây sống ký sinh, có thân mẫm, màu nâu đỏ, phần thân mọc ở dưới đất ngắn, thô, phần mọc phía trên mặt đất cao 20-35cm, đường kính từ 3-6cm (Hình 707) thường thấy mọc ký sinh trên rễ của cây Nitraria schoberi L. thuộc họ Tật lê Zygophyllaceae.

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 707. Tích dương - Cynomorium cocineum:

  1. Toàn cây; 2. Hoa; 3. Hoa lưỡng tính;

4-5. Hoa đực; 6. Hoa cái; 7. Quả bổ dọc

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Đây là một vị thuốc ít dùng nhưng lại được sử dụng chữa bệnh yếu sinh lý, sinh dục và còn hoàn toàn phải nhập. Qua sự phân bố cây này ở các tỉnh Trung Quốc (Tân Cương, Thanh Hải, Nội Mông Cổ, Cam Túc…) chúng tôi cho rằng ít hy vọng tìm thấy có mọc ở Việt Nam. Tại những địa phương có tích dương, người ta thu hoạch vào hai mùa thu, xuân thu được chất lượng thuốc tốt nhất. Có nơi thu hái về phơi hay sấy khô ngay, có nơi thái mỏng rổi mới phơi hay sấy khô.

C. Thành phần hóa học và tác dụng dược lý

Chỉ mới thấy sử dụng trong phạm vi y học cổ truyền. Tính chất: Vị ngọt, tính hơi ôn, có tác dụng bổ thận, hoạt trường mạnh lưng gối, dùng trong trường hợp nam bị liệt dương, phụ nữ bị vô sinh, huyết khô, đại tiện táo bón, lưng gối yếu mỏi.

Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột, thuốc hoàn, thuốc rượu.

Phàm những người thận âm mạnh, hay ỉa lỏng thì không dùng được.

TẦM SÉT 七爪龍; 栅手

Còn gọi là khoai xiêm, bìm bìm xẻ ngón, kantram theari (Cămpuchia).

Tên khoa học Ipomoea digitata Lin.

Thuộc họ Bìm bìm Convolvulaceae.

A. Mô tả cây

Dây leo, cành hình trụ, lá chia thành 5-7 thùy giống như những ngón tay trên bàn tay do đó có tên digitata (ngón tay). Đường kính lá 8- 20cm, cuống lá dài 4-8cm. Cụm hoa ở nách lá, hình chùy lưỡng phân, trông hơi gù. Hoa hình ống rộng, lá đài bị xé rách, tràng màu hồng, bầu hai ô, mỗi ô đựng 2 noãn, quả nang hình cầu, mở bằng 4 mảnh vỏ, đựng 4 hạt, có lông màu hung đỏ (Hình 708).

[]

TODO: thêm hình ảnh

Hình 708. Tầm sét - Ipomoea digitata

Mùa hoa: mùa hạ và thu.

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Cây mọc hoang dại khắp các tỉnh trong nước ta. Thường người ta đào lấy rễ củ vào mùa thu đông, rửa sạch, thái mỏng, đồ lên rồi phơi hay sấy khô dùng dần.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy có nhiều chất nhầy.

D. Công dụng và liều dùng

Trong nhân dân người ta dùng rễ củ tầm sét làm thuốc bổ, tăng dục: Rễ củ tầm sét cạo sạch vỏ, thái mỏng, giã nát, trộn với mật ong mà ăn. Theo kinh nghiệm trong nhân dân, củ tầm sét nấu với đường dùng ăn thường xuyên có tác dụng điều kinh, tránh béo bệu.

Tại Ấn Độ, người ta dùng củ tầm sét làm thuốc nhuận tẩy nhẹ. Còn dùng làm thuốc chữa suy yếu, rong kinh. Ngoài ra còn dùng làm thuốc lợi sữa và thông mật. Theo Guerrero, tại Philipin người ta cũng dùng để chữa những bệnh tương tự.