Còn gọi là cây đầu đấng, ô dược nam.

Tên khoa học Lindera myrrha (Lour.) Merr. (Laurus myrrha Lour., Litsea trinervia Pers., Tetranthera trinervia Spreng., Daphnìdium myrrha

Nees.).

Thuộc họ Long não Lauraceae.

Ô dược (Radix Linderae) là rẽ phơi hay sấy khô của cây dầu đấng hay ô được nam.

A. Mô tả cây

Ô dưọc nam là một cây nhỏ, cao độ 1,30-1,40m, cành gầy, màu đen nhạt. Lá mọc so le, hình bâu dục, dài 6cm, rộng 2cm, mật trẻn nhẩn bóng, mặt dưới có lông, hai gân phụ bắt đầu từ điểm cách cuống lá 2mm, dài ra chừng 2/3 lá, mặt trên lõm, mặt dưới lổi lên. Cuống gầy, dài 7-10mm, lúc đầu có lông, sau nhẩn, mặt trên hõm thành rãnh. Hoa

màu hồng nhạt, họp thành lán nhò, đường kính 3- 4mm. Quả mọng hình trứng khi chín có màu đỏ, một hạt.

Toàn cây có mùi thơm, vị đắng (Hình 334).

  1. Vệ châu ô dược là rễ cày Cocculus ìaurifoỉius DC. thuộc họ Tiết dê (Menisperniaceae).

Trong thiên thai ồ dược, người ta đã xác định được các chất ancaloit như: linderan C₈H|(102, lindêren CsHI₄Or rượu linderola CtlH2:0 và axit líndcric và este của rượu linderola. Ngoài

ra, ngựời la còn xác định được một xeton với công thức C(5H|S0: và một chất iinderazulen với công thức Cl₄H]r,

Trong vệ châu ô dược, người (a xác định được một ancaloit gọi là codorin C|7H1()OgN. Công thức của coclorin đã xác đính như sau:

B. Phân bố, thu hái và chê biên

Mọc hoang ở nhiều tỉnh toàn miền Bắc. Nhiều nhất tại các tinh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tình. Tại Bắc Bộ, có ở Hòa Bình, Hà Tây.

Có thổ thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào thụ đông hay đẩu xuân.

Đào rễ, cát bỏ rể con, rửa sạch, phơi khô.

Nếu thái miếng thì rẽ tươi lấy về, cạo sạch vỏ ngoài (có khi không cạo) ngâm vào nước thỉnh thoảng thay nước rồi thái thành từng miếng mỏng phơi khô.

C. Thành phần hóa học

Vị ò dược nam chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Trong quả mọng có thể chiết được một thứ dầu màu đỏ.

Trong ô dược bắc, người ta phân biệt hai loại:

ỉ. Thiên thai ỗ dược là rễ cày Lindera slrychni/olìơ Will. (hay Benzoin strychni/olium Kuntze) cùng họ.

D. Công dụng và lìéu dùng

Ô dược còn là một vị thuốc dùng trong phạm vị nhân dân, làm thuốc chữa đau bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, trẻ con có giun, sung huyết, đẩu nhức, hay đi đái đêm.

Ngày dùng 2-6g dưới dạng thuốc sắc hay thuớc bột.

Đon thuốc có ô dược

ỉ. Ô hương tán: Ô dược-huơng phụ, hai vị bảng nhau, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 6-8g bột này, Có thể sắc uống. Tùy theo các bệnh mà thay đổi thêm các vị khác sau đây:Ví dụ Ản không ngon, sắc nước gùng mà chiêu thuốc (4g gừng), nếu có giun, thay bằng hạt cau (hạt cau 4g sắc với 50ml nước dùng chiêu thuốc).

  1. Viên ô dược: Ô dược tán nhỏ, thêm nước hồ làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10-20 viên chữa lỵ, sốt, đi ỉa.

Chú thích:

Theo các tài liệu cũ, ưong nước ta có vệ cháu ô dược Cocculus lauriỷolius DC. thuộc họ Tiết dê (Menispermctceae). Đây là một chứ dây leo, gầy

nhãn, màu xanh lục nhạt. Lá có cuống ngắn gẵn giống như lá quế. Phiến phía cuống nhọn, dai, nhẩn dài 9cm, rộng 3-5cm, có 3 gân, nổi rõ ở cả hai mặt. Quả hình thấu kính, đường kính 5mm. Hạt cũng gàn giống như quả, hình thấu kính, nhưng ờ hai

SIM

Còn gọi là đương lê, sơn nhậm, nhậm tử, đào kim nương.

Tên khoa học Rhodomyrius tomentosa Wight (Mvrtiis Tomentosa Air., Myrtus canescens Lour).

Thuộc họ Sim Myrtaceae.

A. Mõ tả cây

Sim là một cây nhỏ cao l-2m có khi tới 3m, cành 4 cạnh, vỏ thân róc thành từng mảng. Lá mọc đối, hình thuôn, hơi hẹp ở phía cuống, phía đầu tù, hơi rộng, dài 4-7cm, rộng 2-4cm, khi già thì nhẵn ở mặt trên, có lông mịn ở mật dưới, phiến lá dày, mép hơi cong xuống, có 3 gân chính, cuống có lông mịn, dài 4-7mm. Hoa màu hổng tím, mọc đơn độc hoặc từng 3 cái một ỏ kẽ lá. Quả mọng màu tím sẫm, mẫm. Hạt nhiều hình móng ngựa. (Hình 335, Hm

37,1)

B. Phân bỏ, thu hái và chế biến

Mọc hoang rất nhiều tại những vùng đồi trọc miền trung du nước ta.

Tại Trung Bộ và Nam Bộ cũng có.

Có mọc ở miền nam Trung Quốc, Philipin, Malaixia, Inđônêxya, các nước vùng nhiệt đới châu Á. Tại Việt Nam, người ta không trồng, nhưng ở Philipin, người ta trồng để lấy quả. Ta dùng quả và búp sim tươi hay phơi khô làm thuổc.

C. Thành phần hoá học

Quả sim có vị ngọt chát, mùi thơm. Chưa được nghiên cứu. Sơ bộ mớì thấy sắc tố antoxyanozit, tanin, đường.

Lá và búp sim có chứa nhiều tanin.

D. Công dụng và liều dùng

Tại một vài vùng ở Việt Nam người ta dùng búp và lá sim non sắc uống chữa bệnh đi ỉa lòng, đi ]ỵ, hoặc dùng để rửa vết thương, vết loét.

mặt có đìa nổi lên trông giổng móng ngựa.

Theo tài liệu cây này mọc ở khắp Viêt Nam. Theo sự nghiên cứu của Nhật Bản, thì trong vỏ và lá có ancaloii gọi là cocculin có tác dụng giống như chất curarơ.

ỉỉình 335. Sim - Rhodomyríus tomentơsa

Quả dùng để ăn. Một vài nơi dùng đổ chế rượu như rượu nho.

Ngày uống 20-30 búp hay lá non dưới dạng thuốc sắc.

Dùng ngoài không kể liều lượng.

Chú thích:

Trong A. Pételot còn giới thiệu một loại cây gọi sim rừng lớn Rhodammia trinervi Blume (Rhodammia spectabilis Blume) cùng họ Sim (Myrtaceae), cùng một công dụng.

Theo mô tả, cây này là một loại cây nhỡ cao I- 4 m, lá mọc đối, hơi thuôn, tù ở phía dưới, nhọn ở phía trên, mặt ưên nhẵn, mặt dưới màu trắng bục phiến lá dài 45-75 mm, rộng 20-30mm. Hoa trắng, mọc ở kẽ lá, có khi mọc đơn độc. Quả hình cẩu,

Còn gọi là kỳ nam, trà hương, gió bầu, bois d’aigle, bois d’aloes.

Tên khoa học Aquiiaria agaíỉocha Roxb. (A. crassna Pierre)

Thuộc họ Trầm Thymeỉacơceae.

Trầm hương (Lignum Aquiỉariae) là gỗ có nhiều điểm nhựa của cây trầm hương. Vì vị thuốc có mùi thơm, thả xuống nước chìm xuống do đó có tên gọi như vậy (ưầm-chìm).

Tên kỳ nam còn có tên kỳ nam hương thường dành cho loại trâm quý nhất. Giá đắt gấp 10-20 lần trầm hương.

A. Mô tả cây

Trầm hương là một loại cây to cao tới 30-40m, vỏ xám, xơ. Lá mọc so le, phiến mỏng, hình thuôn,

dài 8-10cm, rộng 3,5-5,5cm, nhọn ở phía cuống, đầu lá cũng nhọn, mặt trên màu xanh bóng, mặt dưới màu xanh nhạt hơn, có lông. Cuống dài 4- 5mm cũng có lông, mặt trên thành rãnh. Cụm hoa hình tán hay chùm, mọc ở kẽ lá. Hoa màu ưáng ưo. Quả khổ, nang, hình ỉê, có lõng, dài 4cm, rộng 3 cm, phía dưới có chu tính (perigone) đồng trưởng. Vỏ quả mô làm hai mảnh, xốp. Một hạt gồm một phần trên hình nón, phía dưới dài cùng một kích thước, vỏ ngoài cứng, phía trong mềm (Hình 336).

B. Phàn bố và tạo thành trầm hương

Trầm hương mọc hoang ở những vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Hội An, miền Nam Bộ Việt Nam. Có mọc nhiểu ở Cãmpuchia.

Việc tạo thành trầm hương chua rõ: Có người nói trầm hương được tạo thành do một bệnh gây bởi sự biến chất của những cứt chim ở kẽ cành. Hiện nay người ta mới chỉ biết rằng cây càng già, 10 đến 20 năm. hoặc lâu hơn, gỗ cây biến thành một chất bóng như đá sỏi, có những vết nhăn, gổ ghề trông giống như cánh con chim ưng do đó có tên là gỗ chim ưng (boi.s d’aigle). Tuy nhiên, cũng có những mẫu gỗ không có các điểm trên, mà chỉ có một màu nâu đỏ đều. Có những miếng gỗ chỉ có những điểm màu lam nhạt.

Tại nhũng vùng có cây trầm hương có bệnh (tức là bắt đẩu có những điểm nâu đỏ), thì người ta thường làm nhà ở gần để canh, vì loại trầm thu được như vậy giá rất đắt, có khi gấp 20-30 lần. Một cây gió bầu có trầm cho từ 2-30kg trầm hương.

Trầm hương có hình dáng, kích thước không nhất định: Có khi là miếng gổ, có khi là nhũng cục hình trụ, thường dài lOcm, rông 2-4cm, hai đầu có vết như dao cắt, có khi lại như miếng gỗ mục, mặt ngoài màu vàng nâu, có khi có những vết dọc sẫm màu, chất cứng nặng, nơi cắt ngang có thể thấy những đám nhựa màu đen hay đen nàu. Mùi thơm đạc biệt, khi đốt lên mùi thơm lại càng rõ rệt.