CÂY CHẸO黄杞

Còn gọi là chẹo tía, hoàng khởi, peo, sui deng, nhân khởi, cây cơi.

Tên khoa học Engelhardtia chrysolepis Hance (Engelhardtia wallichiana Lindl).

Thuộc họ Hồ đào Juglandaceae.

A. Mô tả cây

Chẹo là một cây nhỡ cao chừng 8m cành và cuống lá thường mềm yếu. Lá kép lông chim nhẵn thường gồm 2 đến 5 đôi lá chét hình trứng dài, dai, có cuống, lá chét phía trên dài hơn, phiến lá chét dài 5-15mm. Hoa đực mọc thành hình đuôi sóc, mọc từ cành của năm truớe, hoa không cuống hay gần như không cuống, cụm hoa cái cũng mọc thành hình đuôi sóc ở phía trên hoa đực. Hoa có cuống. Quả mọc thành bóng dài chừng 25cm. Hạt được bao bọc bởi lá bắc có 3 thùy (Hình 245).

B. Phân bố

Cây chẹo mọc hoang khắp các vùng rừng núi nước ta cả Trung Bộ và Bắc Bộ. Còn mọc ở Malaixia, Lào, miền tây nam Trung Quốc.

C. Thành phần hóa học

Chưa thấy có tài liệu nghiên cứu. Chỉ mới biết lá và vỏ có chất độc đối với cá.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 245. Cây chẹo - Engelhardtia chrysolepis

D. Công dụng

Nhân dân một vài vùng dùng vỏ và lá cây này giã nát cho vào nước suối đã ngăn để duốc cá. Nhân dân Trung Quốc cũng dùng lá để duốc cá.

CÂY CỦ ĐẬU地瓜

Còn gọi là củ sắn, mãn phăo (Lào-Viêntian), krâsang (Cămpuchia), sắn nước (miền Nam).

Tên khoa học Pachyrhixus erosus (L.) Urb. (Dolichos erosus L.), Pachyrhizus angulatus Rich.

Thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae).

Cây củ đậu cho ta rễ củ ăn được, nhưng lá và hạt có chất độc, cần chú ý khi sử dụng.

A. Mô tả cây

Cây củ đậu là một loại cây leo, có rễ củ hình như con quay lớn. Lá kép gồm 3 lá chét, mỏng. Hình hơi quả trám dài 4-8cm, rộng 4-12cm, những lá phía dưới không đối xứng. Hoa màu tím nhạt, khá lớn, mọc thành chùm dài ở kẽ lá. Quả hơi có lông, không cuống, dài 12cm, rộng 12mm, ở khe các hạt hơi lõm xuống. Trong quả có tới 9 hạt, đường kính chừng 7mm, hình thấu kính. Hạt cứng khó giã nhỏ (Hình 246).

B. Phân bố và thu hái

Cây củ đậu được trồng khắp nơi ở Việt Nam vùng đồng bằng cũng như miền núi để lấy rễ củ ăn, hạt dùng làm thuốc, nhưng ít dùng vì có độc. Mùa thu hoạch hạt: tháng 11-12.

C. Thành phần hóa học

Trong rễ củ (củ đậu), sau khi đã bóc vỏ có tới 90% nước; 2,4% tinh bột; 4,51% đường toàn bộ (biểu thị bằng glucoza); 1,46% protít; 0,39% chất vô cơ; không thấy có chất béo, không thấy có tanin, không có axit xyanhydric. Có men peroxydaza, amylaza và photphataza.

Trong hạt củ đậu có 12,27% độ ẩm; 20,13% chất béo; 30,61% chất protit; 4,8% tanin; 5,85% tinh bột; 3,25% đường toàn bộ (biểu thị bằng đường glucoza). Trong hạt củ đậu có một chất độc gọi là rotenon C₂₃H₂₂O₆ và tephrosin C₂₃H₂₂O₇.

Tỷ lệ rotenon trong hạt củ đậu khoảng từ 0,56- 1,01%. Trong lá cũng có các chất như trong hạt.

D. Tác dụng dược lý và công dụng

Rễ củ đậu không độc. Được dùng ăn sống hoặc xào nấu chín. Có khi người ta ép củ lấy nước bôi mặt để làm cho da dẻ mịn màng, khỏi nẻ.

Lá độc đối với cá và với loài nhai lại, nhưng không độc đối với ngựa.

Hạt độc đối với cá và sâu bọ. Tại Trung Quốc, người ta dùng nó để trị các loại sâu hại rau, rệp bông, rầy bông (một kg hạt giã nhỏ, thêm nước xà phòng và 200 lít nước).

Nhân dân ta vẫn dùng hạt củ đậu giã nhỏ trộn với dầu để chữa một số bệnh ngoài da. Tuy nhiên có độc, cần chú ý để tránh ngộ độc.

Đơn thuốc dùng hạt củ đậu

Làm thuốc phun trừ rệp rau và rệp thuốc lá. Hạt củ đậu ngâm với nuớc một đêm, sau giã nhỏ, thêm nước với tỷ lệ 1,5% đến 2% hoặc 4% trộn đều. Phun lên những cây bông, cây rau, cây thuốc lá ở ngoài ruộng. Sau 24 giờ đến 36 giò rệp và nhện đỏ chết hết hay gần hết (90-100%).