o
Metyl 3- hydroxy- 4- cumarin
hiện thấy ràng chất này do cumarin bị một thứ nấm trong cây biến thành. Link và những người cộng sự đã xác định và tổng hợp được dicumarol vào nâm 1941.
Trong thán, lá và hoa nhãn hương có tinh dắu. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là dìhydrocumarin CyHgO, {Trung Quốc kinh tế thực vật chí, 1961, 136Ỗ).
Toàn cây chứa khoảng 3,5% chất béo, chùng 1% pectin.
Hạt chứa 6% chất béo.
D. Công dụng và liều dùng.
Như trên đã nói, nhãn hương háu như chưa được sử dụng làm thuốc ờ nước ta. Tại các nước châu Âu và châu Mỹ người ta dùng chữa đau mắt: Pha 5 đến lOg cỏ này trong một lít nước sôi. Dùng nước này để rửa mát.
Người ta còn chiết từ hoa hay ngọn cây này chất thơm dùng làm thơm thuốc lá: Ngâm hoa hay cỏ vói benzen. Bốc hơi benzen này sẽ được 0,10- 0,12% chắt thơm đặc, màu xanh lục, nguyên liệu chế cumarin dùng trong công nghiệp nước hoa.
Loài Meỉỉỉotus non là một loại cỏ cho gia súc ăn rất tốt do hàm lượng protein cao: 15 đến 20%, dễ tiêu hoá, hàm lượng muối khoáng cao. Tuy nhiên cũng như trên đã nói, loại cỏ này nếu bị thối và do một thứ nấm riêng thì có thể gây cho súc vật ăn phải bị bênh xuất huyết năng, có khi chết. Đó là do chất dicumarola có tác đụng ngược lại vói vita- min K. Nó cản trở sự tạo thành prothrombaza trong máu và làm cho máu không đông được.
Chúng ta biết rằng sự đông máu tiến thành qua hai giai đoạn:
1/ Sự có mạt của ion canxi và thrombokinaza, chất prothrombaza sản xuất trong gan sẽ tạo ra chất thrombaza.
2/ Chất thrombaza sẽ chuyển íibrinogen của
Bình luận