Còn gọi là thnot, (Cảmpuchia), mak tan kok (Lào), palmier à sucre, rondier.

Tên khoa học Borassus fỉabellifer L., (Pholidocarpus tunicatus H. Wendl.).

Thuộc họ Dừa Paỉmaceae.

A. Mồ tả cây

Cầy thân cột, chia thành từng khoanh, có thể

cao tới 30m, trên ngọn có 1 tán lá xòe rộng. Lá có cuống dài, mặt lá màu xanh đậm, bóng mỡ trông tựa tàu lá cọ.

Cụm hoa là những bông mo, đực, cái khác gốc. Bông mo đực to hơn, phân nhánh nhiều hơn.

Quả thốt nốt to, tròn như quả dừa, nhưng bên trong đậc, trong suốt thường chứa ba nhân cứng,

TODO: thêm hình ảnh

Hình 204. Thốt nốt - Borassus flabellifer

dẹt, đầu có một lỗ thủng (Hình 204).

  1. Phân bố thu hái và chế biến

Càv thốt nốt trổng phổ biến ở miền Nam nhiều nhất từ Tây Ninh đến Đồng Tháp, Kiên Giang. Ngoài ra còn thấy trổng ở Cãmpuchia, Lào. Tại Cãmpuchia người ta trồng thốt nốt ở quanh nhà, góc vuờn, dọc đuờng đi. Cây chịu cả khô hạn và úng ngập. Trổng bằng hạt, sổng lâu hàng trăm nãm, khi cây 15-20 tuổi bắt đầu ra quả.

Tại Ấn Độ, người ta trồng thốt nốt trên quy mô lớn: mỗi tỉnh đủ sản xuất tới 15 tấn đường thốt nốt một năm.

Thốt nốt được trổng chủ yếu làm nguyên liệu chế đường rượu, một số ít được dùng làm thuốc. Những bộ phận được dùng làm thuổc bao gồm cuống cụm hoa, đường thớt nốt là dịch chảy từ cụm hoa, cây non, rễ.

Khi thốt nốt ra hoa, vào chiều tối, người ta buộc ống vào đầu cụm hoa, sau khi đã cắt một đoạn đầu hoa, bằng đốt ngón tay. Để suốt một đêm, thu được chừng một lít nước thốt nốt. Nước thốt nốt lấy ban đêm ít chua, vị ngọt rất thơm, ủ với men nhẹ được thứ rượu nhẹ như bia, dùng men nặng hơn sẽ được rượu nặng. Cây thốt nốt

MÍA

Còn gọi là cam giá.

Tên khoa học Saccharum õffcinarum L.

đã lấy nước thì không cho quả nữa. Quả thốt nốt non ãn mát như thạch. Quả già có màu vàng thơm, mùi mít chín, nếu giã ra lọc sẽ được thứ bột dẻo, tráng như bột nếp. Nhiều nơi đợi quả già, giã lấy bột làm bánh tôm, bánh ú hoặc nấu chè. Một cây thốt nốt cho từ 20-30 quả, đặc biệt có những cảy 50-60 quả. Cây đực không có quả, không có nước, nhưng vẫn có hoa. Hoa ra được một tháng thì teo lại.

C. Thành phần hóa học

Trong nước chảy từ bông mo thốt nốt chúa rất nhiều đường sacaroza (từ 10 đến 15%).

D. Còng dụng và liều dùng

Cuống cụm hoa được nhân dân dùng làm thuốc chữa sốt và lợi tiểu, dùng trong những trường hợp kèm theo viêm tấy, sốt rét, lá lách to: Cắt cuống cụm hoa thành từng miếng mỏng, cân lOOg, thêm 600ml nước. Đun sôi, giữ sôi 15 phút. Chia nhiều lần uống trong ngày. Cuống cụm hoa nướng nóng, vắt lấy nước, thêm ít đường mồi sáng uống lOOml, uống luôn trong nhiều sáng có thể ra giun.

Nước chảy từ cụm hoa: Sáng sớm, cắt cụm hoa lấy nước chảy ra mà uống làm thuốc nhuận tràng.

Đường thốt nốt ngoài công dụng làm chất ngọt, nhân dân Cãmpuchia dùng đường thốt nốt làm vị thuốc giải chất độc trong những trường hợp ngộ độc do mã tiển. Thốt nốt non sắc uống chữa vàng da, lỵ, tiểu tiện khó khăn.

Rễ thốt nết sắc uống làm thuớc lợi tiểu tiện như thốt nốt non. Mỗi ngày uống 50- 60g dưới dạng thuốc sác.

Các bộ phận khác của cây thốt nốt cũng sử dụng: thân cây dùng làm cột nhà, dầm cầu, ghe thuyền. Lá dùng lợp nhà, làm nón, tước nhỏ lấy lạt buộc.

Chú thích:

ở những nơi không có thốt nốt ta có thể dùng mía hay cam giá.

tru

Thuộc họ Lúa Poaceae (Gramineac).

Saccharum do chữ Ần Độ sakhara có nghĩa là đườna, cam giá vì cam là ngọt, giá là gậy, cây trông giống cái gậy, có vị ngọt.

A. Mỏ tả cây

Mía là một loại cỏ sống dai, than yếu, thân rễ mang các thân cây mọc trên mật đất cao từ 2- 5m, đường kính 2-5cm, tận cùng bằng một túp lá, dài từ 30-100cm. Thân có đốt, giữa các đốt có chứa nhiẻu sacaroza.

Có nhiều thứ mía: Mía de thân nhỏ, gầy và thấp, mía bđu thân to và cao, mía vỏ trắng, đỏ hay tím. Có thứ chứa nhiểu đường, có thứ chứa ít đường.

B. Phản bố, thu hái và ché biên

Mía vốn nguồn gốc Ân Độ, hiện nay được trồng ở nhiều nước từ đông sang tây. Năm 1493, Crixlôp cỏlông mang mía trồng ở châu Mỹ. Trên thế giới nước sản xuất mía nổi tiếng có Cuba, An Độ. Tại Việt Nam mía được trồng nhiều nhất ở các tỉnh miền Trung như Quảng Nam, Quảng Ngãi… miền Bắc ờ các tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc. Mía được trồng ờ những nơi đất phù sa {nhẹ và sâu, có chất vôi) trồng bằng ngọn hay cà cây. Sau 11 đến 18 tháng thu hoạch. Thưừng người ta trồng mía lấy nguyên liệu làm đường. Làm thuốc, người ta dùng cả cây tươi cát thành lừng khúc ngắn 2-3cm, chẻ hai hay chẻ 4, với tên cam giá.

c. Thành phán hóa học

Trong thân cây mía có: Sacaroza 7-10%; pro- tein 0,22%; chất béo 0,5%; tro 0,5%. Thành phần tro gồm chủ yếu CaO 4,14%; MgO 3,53%; Fe203

0, 11%; K20 36,61%; Na20 0,88%; SiO, 27,97%; SO, 17,38%; P205 4,76%; C1 0,99%’ngoài ra trong rễ còn Mn^o^ 4,54%.

Các chất men: Lacaza, tyrc>7.inaza, oxydaza, ba loại men này chỉ có irong nước mía non. Ngoài ra còn glyxin, asparagin, glutamìn, lơxin, guanin, xylan, arabinoza và tanin.

Vở cây mía chứa chất béo gồm axit oleic, axit linolic, axit panmatic, axit stearìc và axit capronic. Ngoài ra còn lexitin, phytosterin.

Chài sáp chiếm 35% gồm chủ yếu axit xerotinic và rượu myrixylìc.

Nước mía có màu nâu khi để lâu do men lacaza và polỵphenola, men tyrosinaza trên tyrosin, ngoài ra còn có tác dụng của các axii hữu cơ, và các men trên chất sắt của máy ép. Nước mía chứa sacaroza 20%, glucoza, axit xũric, axit malic, axit tactric, axit aconitic, ruợu myrixylic, galactoxylan và KjO.

Lá mía khô chứa 0,0358 đến 0,1066% axit xyanhydric.

D. Công dụng và liều dùng

Nước mía có tác dụng tiêu đờm, hết khát, bổ dưỡng.

Mía còn là nguyên liệu chế đường, mật dùng làm thực phẩm và chế thuớc, chế rượu.

Đơn thuốc có nước mía

Nước mía 7 chén, nước gừng một chén. Nhấp dần chữa ăn vào nỏn ra, hoặc sáng ăn chiểu nôn, tối ãn sáng nôn.