Còn gọi là bình vôi, bạch phấn đẳng, turbith vcgeial.

Tên khoa học ỉpơmoea turpethum R. Br., OpercuỊina turpethunt (L) Silva Man so.

Thuộc họ Bìm bìm Convoỉvulaceae

A. Mô tả câv

Dây leo bằng thân quấn, sống dai. Cành hình trụ hơi có dìa. Lá hình trứng hay thuôn dài, đôi khi ba cạnh, phía dưới hình tim, dài 5-12cm, rộng

2,5- 7,5cm, cuống lá dài l-7cm. Hoa to màu tráng hav vàng nhạt mọc ở lách lá. Cuống hoa dài 1- 7cm. Quá nang đường kính 15-16cm, 4 cạnh, bao bọc trong đài coa 3cm, quả mở theo đường nứt ngang vì vỏ quả ngoài tạo thành một chỏm rụng xuống khi chín và có mang theo vòi. Hạl 3- 4, hình thấu kính, mầu đen nhạt, đường kính 6’ 7mm. Mùa hoa: Mùa thu và đông (Hình 417, Hm 34,1)

B. Phân bô, thu hái và chê biến

Cây mọc hoang dại ở ven đường, nhiều nhất ở các tính miền Bác nước ta. Còn thấy mọc và được trổng ờ Malaixia, Ân Độ, Trung Quốc, Philipin…Người ta thu hái và dùng làm thuốc gồm thản rễ, rễ và phần thân trên mạt đất, cắt và thái thành từng đoạn dài 10-20cm, đường kính l-3cm. Thường duợc liệu bao gồm khoảng 63% thân rể, 22% rể và 15% thân trên mãt đất. Thuốc vị nhạt, sau hơi hắc.

C. Thành phần hoá học

Hoạt chẩt chủ yếu của chìa vôi là hỗn hợp gluco-nhựa với tỷ lệ 7-8%. Muốn định lượng gluco nhựa trong duợc liệu người ta cân chính xác 6g bột chìa vôi. Chiết gluco nhựa bằng 90ml cồn 90u đun sôi ở nhiệt độ cách thủy trong

4 giờ. Lọc và lấy một lượng dịch cồn chiết tương dương với 5g bột. Cho vào một bình cẩu

TODO: thêm hình ảnh

Hình 417. Chìa vôi - ỉpomoea turpethum

đã cân bì và cất thu hồi cồn, sấy khò cạn ở 100“C, rồi dùng nuớc nóng rửa cặn để loại hết phần đường và phần tan trong nước của nhựa thu được. Lọc nước rửa qua giấy lọc đã cân bì (có xếp nếp). Sấy khô bình cầu chứa cặn và giấy đã dùng lọc nước rủa ở nhiệt độ 100- 105°c. Cân và tính tỷ lệ.

Gluco nhựa của chìa vối phân tích sâu hon sẽ được hai phần là turpethin (không tan trong ête và chiếm khoảng 90%) và turpethin ơ và p (tan trong ête, turpethin Ị3, tan cả trong ête dầu hòa)

Thủy phân kiểm và thủy phân axit các chất turpethein ta sẽ thu được phần genin là một axit ancol (axit jalapinolic hay axit hydroxy-II panmitic với 16 cacbon, và phần đường gồm gỉucoza và ramnoza. Nhưng khi thủy phàn turpethin, thì phần genin lại là một chất trung tính chứ không phải là một axit ancol (theo Shellard-P/a/ưa medicơ, 1961, 9, 102-115 và 141-152)

D. Còng dụng và liều dùng

Trong kinh nghiệm của nhân dân Việt Nam

thì củ chìa vôi thường được dùng chữa thấp khớp, đau nhức các khớp xương. Thân cây chìa vôi hơ hay xào nóng dùng đắp lên bụng phụ nũ sau khi đẻ để chữa đau bụng.

Theo kinh nghiệm các nước phương Tây, thân rễ chìa vôi dùng làm thuốc tẩy mạnh với liều 4 đến 8g dưới dạng thuốc sắc hoạc với liều 1 đến 4g bột.*