Còn gọi là sơn trúc tử, mangoustanier.

Tên khoa học Garcìnìa mangostana L. (Mangostana garcìnia Gaertn.).

Thuộc họ Bứa Clusiaceae (Guíti/erae).

Tuy mang tên sơn trúc tử tại Trung Quổc, nhung Trung Quốc không có cây này, vẫn phải nhập từ nước ngoài vào.

A. Mô tả cày

Măng cụt là một loại cây to, có thể cao tới 20m. Lá dày, dai, màu lục sẫm, hình thuôn dài 15-20cm, rộng 7-lOcm.

Đặc điểm của cây này là người ta mới chỉ thây cây cái. Nguời ta cho rằng trong số nhũng nhị lép (staminode) bao quanh bầu có thể có bao phãh chứa phấn hoa,

Quả hình cầu, to bằng quả cam trung bình, vỏ ngoài màu đỏ sẫm, dầy cứng, phía dưới có lá đài,

Điều đáng chú ý khi dùng kha tử là dùng liều nhỏ ứù cầm đi ỉa, liều lớn lại gây đi ỉa. Liểu cầm đi ỉa là 3-6g.

Đơn thuốc có kha tử

Chữa xích bạch ly:

COOH

OH

Axit galic

Kha tử 12 quả, 6 quả để sống, 6 quà nuớng bỏ hạt, sao vàng và tán nhỏ. Nếu lỵ ra máu thì dùng nước sắc cam thảo mà chiêu thuớc, nếu Jỵ ra mũi không, dùng nước sác cam thảo trích.

Chữa hữ lâu ngày:

Kha tử 4g, đàng sâm 4g, sắc với 400ml nước cô đặc còn 20Gml, chia 3 lần uống trong ngày.

TODO: thêm hình ảnh

Hình 329. Măng cụt - Garcinia mangostana

phía đỉnh có đầu nhụy. Trong quả có từ 6 đến 18 hạt, quanh hạt có áo hạt ăn được (Hình 329).

B. Phản bố, thu hái và chê biến

Người ta cho rằng cây măng cụt nguồn gốc ở các đảo La Sôngđơ và Môluyc (Malaixia, Inđônêxya) sau được các nhà truyền giáo đạo gia tô di thực vào miền Nam Việt Nam. Hiện nay được trổng rộng rãi ở Nam Bộ. Còn thấy ở Philipin, Inđônêxya, Malaixia.

Người ta trổng chủ yêu để lấy áo hạt mà ăn; vỏ quả phơi khô dùng chữa đi ỉa lỏng hay đi lỵ.

C. Thành phần hóa học

Áo của hạt có vị ngọt, thơm ngon. Khi mới chín có màu trắng trong, nhung sau ít ngày đù ngả màu vàng, kém thơm và có vị chát do đó khó chuyên chở đi xa. Thành phần hóa học chưa thấy có tài liệu nghiên cứu.

Vỏ quả được nhiểu người nghiên cứu hơn vì người ta hy vọng dùng nó để thuộc da. Trong vò quả có chứa từ 7-13% tanin. Tuy nhiên khởng được dùng thuộc da vì theo yêu cầu của những nhà thuộc da, nguyên liệu dùng để thuộc không được chứa quá một phần không phải tanin (tối đa) so với 2 phần tanin. Trong khi đó vỏ mãng cụt chứa trong phần tan trong nưóe khoảng 13,61 % tanin và 14,59% không phải tarún (theo Buìl. Office Coỉoniaỉ, số 136, tháng 4-1919).

Ngoài tanin ra, trong vỏ quả măng cụt, theo w. Schmidt còn có chất nhựa và chất mangostin (C₂₀H₂₂O₅), CÓ tinh thể hình phiến nhỏ, màu vàng tươi, không vị, tan trong rượu, ête và chất kiềm, không tan trong nước. Độ chảy 175°c. Chất mangostin có thể chiết suất như sau: Lấy kiệt vỏ măng cụt bằng nước lạnh, sau bằng nước sôi. Hợp cả hai nuớc đó lại. Cô đặc và bốc hoi cho khô. Rửa cặn bằng nước rồi hòa tan bằng rượu. Thèm nước và axit axetic vào dung dịch. Để một thời gian sẽ xuất hiện một đám tinh thể. Gạn và ép. Khi thêm vào chất mangostin dung dịch clorua feric, sẽ có màu lục đen nhạt. Nếu thêm axit sunfuaric sẽ có màu đỏ.

Đ. Công đụng và liều dùng

Tại nhiều nước Malaixia, Cămpuchia, Philipin, người ta dùng nước sắc vỏ măng cụt để làm thuớc chữa đau bụng đi ỉa lỏng, chũa lỵ, có khi còn dùng chữa bệnh hoàng đản (vàng da). Cách dùng như sau:

tho chừng 10 vỏ quả mãng cụt vào một nồi đất hay nồi đồng (tránh nồi sắt hay nồi tôn) thêm nước vào cho ngập rồi đun sôi kỹ trong vòng 15 phút. Ngày uống 3 đến 4 chén to nuớc này.

Có thể dùng theo dơn sau đây: vỏ quả măng cụt khô 60g, hạt mùi 5g, hạt thìa là 5g, nước 1200ml. Đun sôi, sắc kỹ cho cạn còn chừng một nửa (600ml). Mỗi lần uống 120ml. Uống mỗi ngày 2 lần. Nếu đau bụng có thể thêm ít thuốc phiện. Trong trường hợp này không dùng cho trẻ con được.