Còn gọi là bổ cốt toái, co tạng tó (Thái ở châu Quỳnh Nhai), co in tó (Thái ở Điện Biên), cây tổ phượng, cây tổ rồng, tổ điều, tắc kè đá.

Tên khoa học Drynarìa fiortunei J. Sm. (Poỉypodium ỷortunei o. Kuntze).

Thuộc họ Dương xỉ Poỉypodiaceae.

Cốt toái bổ hay bổ cốt toái (Rhizoma Drynariae íortunei) là thân rể phơi khô của cây bổ cốt toái. Tên bổ cốt toái vì người ta cho rằng vị này có tác dụng làm liền những xương dập

gãy.

Tên co tạng tó vì tạng có nghĩa là đặt vào, tó là liền lại vì vị thuốc này đặt vào thì làm liền lại. Chữ in có nghĩa là gân, vì vị thuốc có tác dụng nối liền gân cốt.

A. Mô tả cây

Cây sống riêng trên các hốc đá, mọc trên những đám rêu, hoặc sống trên các thân cây lớn như cây đa, cây si. Cây sống lâu năm, có thân rễ dày mầm, phủ nhiều vẩy màu vàng, bóng. Có hai loại lá: Lá bất thụ, không cuống màu nâu,

hình trứng 5-8cm, rộng 3-6cm, phía cuống hình tim. có ihùy, gán nổi rõ. Lấ hữu thụ, màu xanh nhẩn, đơn xẻ thùy lông chim, dài 25-40cm, cuống có dìa, có thùy thuôn, tù ở đầu, dài 5- 6cm, có mạng, ổ tử nang nhiều, xếp thành một hàng ỡ ìnỗi bên gân chính, hình tròn, không có áo tử nang.

Ở Việt Nam có mấy loài cốt toái bổ đều được dùng làm thuốc như Drynaria ỷortunei J. Sm., Drynaria bonii Christ.

Dìỵnaria ỷortuneĩ có lá xẻ răng cưa, bào tử xếp đều đặn, còn Drynaria bonìi có lá mép lượn sóng, bào tử xếp khõng đều (Hình 376, Hm 18,1).

B. Phân bố, thu hái và cliế biến

Mọc hoang ở khắp núi đá, trên cây hay dọc suối vùng rừng núi nước ta. Còn có mọc ở Lào, Trung Quốc (miền Trung và miền Nam).

Việc thu hái có thể tiên hành quanh năm, vàò những lúc ít cồng việc đồng áng, thường vào các tháng 4 đến tháng 8-9.

Hái về, rửa sạch đất cát, trừ bỏ các lá là dùng được. Nếu dùng khô thì sau khi rửa sạch đất cất, hoặc phơi khó ngay, hoặc phơi sau khi đồ cho chín để dè bảo quản. Muôn hết lông, thường người ta đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ trên thân rễ. c. Thành phán hoá học

Trong cổt toái bổ Drynarìa /ortunei có hesperi- din {C A., 1970,73, U382j> và 25-34,89% tinh bộl (Trung Quốc kinh tế thực vật chí, 1961, 447).

E. Công dụng và liều dùng

VỊ thuốc này mói thấy được dùng irong nhân dân.

Theo tái liệu cổ, cốt toái bổ có vị đắng, tính ôn và không độc, vào hai kinh can và thận. Có khả năng bổ thận, trị đau xương, hành huyết phá huyết ứ, làm thuốc hoà hoãn, sát trùng đờ đau. Dùng chữa đập xương, đau xương, bong gân, sai khớp, íai ù răng đau, thận hư. Nhũns người àm hư, huyết hư đều không dùng đuợc.

Dùng uống Irong hay đắp ở ngoài. Liều dùng hàng ngày là 6 đến 12g. Dùng ngoài không có liểu lượng.

Có thể dùng dưới hình thức thuốc sắc hay ngâm rượu, hoặc giã đắp lên vết thương.

Nãm 1963, tại Quân y viện 6 (Tây Bắc) có dùng cốt toái bổ điều trị có kết quả 4 trường hợp bong gản, tụ máu như sau:

Cốt toái bổ tươi hái vè, bóc bỏ hết cả lông tơ và lá khô, sau đem rửa sạch, giã nhỏ. Rấp một ít nước nào, gói vào lá đã nướng cho mềm, rồi đắp lên các vết đau. Những loai gãy xương hở không dùng lối này. Trong một ngày thay thuốc bó nhiểu lán. Nếu không đủ cốt toái bổ, có thể chỉ lấy bã Ihuốc ra, rấp nước rồi lại băng lại. Thường chỉ sau 3 ngày đến 1 tuần là bệnh nhân đỡ và ra viện trong khi dùng các phương pháp khác kéo dài có khi hàng tháng mà không đỡ (Báo cáo của bác sĩ Lê Sỹ Toàn và hộ lý Lò Văn Sú Quán y viện 6, Tây Bắc).

Những đơn thuốc khác có cốt toái bổ

Cốt toái bổ, tán nhỏ, cho vào bổ dục lợn, nướng chín mà ăn để chữa các chứng ù tai, thận hư, răng đau.

Chú thích:

Tại Việt Nam, ngoài vị Drvnaria fortunei, người ta còn dùng thân rể một loại cây khác gọi là Drynaria bonỉi Christ. cùng họ với cùng một cỡng dụng.