II. CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC CHỮA MỤN NHỌT MẨN NGỨA

Tên bồ công anh được dùng để chỉ ít nhất 3 cây khác nhau đều có mọc ở nước ta, cần chú ý tránh nhầm lẫn:

  1. Cây bồ công anh Việt Nam Lactuca indica L. họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Việt Nam” là chúng tôi mới thêm để tránh nhầm lẫn. Cây này được dùng phổ biến, nhất là tại phía Bắc và phía bắc Trung Bộ.
  2. Cây bồ công anh Trung Quốc Taraxacum officinale Wigg. cũng họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Trung Quốc” chúng tôi cũng mới thêm vào để chỉ rõ rằng tên bồ công anh ghi trong các sách Trung Quốc là cây này. Cây này có mọc hoang và được trồng ở một vài nơi trong nước ta, nhất là tại các miền núi cao như Tam Đảo, Sapa. Tuy nhiên ta hầu như không dùng loại này.
  3. Cây Chỉ thiên Elephantopus scaber L. cũng thuộc họ Cúc (Asteraceae). Cây này được một số anh em miền Nam nước ta dùng với tên bồ công anh. Điều đáng chú ý là tại một vài nơi ở miền nam Trung Quốc (tỉnh Quảng Tây) người ta cũng gọi cây chỉ thiên này là bồ công anh và dùng như cây bồ công anh Trung Quốc (xem vị chỉ thiên).

BỒ CÔNG ANH VIỆT NAM 越南蒲公英

Cảo bản là một vị thuốc tuơng đối thông dụng trong đông y. Vì gốc cây như gốc lúa (cào - lúa, bản - gốc) do đó có tên cảo bản. Trên thị trường có 2 loại…

Tại Trung Quốc và nước ta cũng có nơi dùng cây hồng cận biếc hay mộc cận (Hibiscus syriacus L hoặc Hibiscus chinensis DC.) cùng với một công dụng. Cây này…

Còn gọi là Phan thiên hoa, tiêu phan thiên hoa, nha khac mòn (Thái), bái lương, bái cúc, vái, địa đào hoa, niêm du tử, dã miên hoa.

Còn gọi là ké đồng tiền, bạch bối hoàng hoa nhậm, chỗi đực, khát bo lương (Thái).

Còn gọi là khế ta, khế cơm, khế chua, khế giang, ngũ lãng tử , dương đào, ngũ liêm tử.