X. CÁC CÂY THUỐC VÀ VỊ THUỐC CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP VÀ TÊ THẤP

bám trên vỏ hầu làm cho hấu có hình dáng khác nhau. Mặt ngoài cùa vò có màu sẫm. Hầu nhiểu luổi có thớ vỏ xếp chồng lên nhau theo từng lớp. Mặt trong của vỏ phần lớn có màu trắng, có vỏ màu vàng tím, óng ánh như xà cừ (Hình 371).

ỉ lình 37 ỉ. Mẩu ìệ - Ostrca sp

Hầu vĩnh viễn không rời vật bám; vỏ hầu chỉ mở đóng để bắt mồi và thở.

Hầu thích nghi ở nhiệt độ nước từ 10°C đến 35 “C và nồng độ muối từ 4% đến 24%, nếu nước nhạt quá hẩu sẽ chết. Môi trường thích nghi nhất cho hầu là nước có nhiệt độ từ 10’C đến 25°C nồng độ muối từ 10% đến 20%, tỷ trọng nước từ 1,003 đến 1,009, đáy nước có chừng 2/3 bùn.

Hầu là loài ăn tạp, ăn cả động vật và thục vật nhỏ lơ lủng trong nước chủ yếii là các loại khuê tảo.

Mùa sinh đẻ: Từ tháng 7-10, nhiều nhất là 8-9.

B. Phân bố, thu bất và chê biến

Hầu hết các cửa sóng trong 12 tỉnh duyên hải miền Bắc nước ta chỗ nào cũng có, nhiều nhất là ở sông Bạch Đằng (Hải Phòng), sông Chanh (Quảng Ninh), sông Diêm Điền (Thái Bình), Lạch Trường (Thanh Hoá) và Tiên Yên (Quảng Ninh). Có nơi chúng phân bô’ sâu vào vùng lục địa 25 cây số như sông Lạch Trường hoặc hơn 50 cây sô như sông Bạch Đảng. Nói chung là khúc sòng nào có nước lợ (nửa mặn, nửa nhạt) là có loại hầu này sinh trưởng. Hằng năm ta có thể thu mua tới hàng 10 nghìn tấn cả ruột lẫn vò.

Mùa khai thác hầu vào các tháng 10 đến tháng 3, vì lúc này hầu béo. Nhưng để lấy vỏ hầu chê mẫu lệ, ta có thể thu nhặt quanh nãm, vì sau khi lây thịt, thường người ta vứt bỏ vỏ hầu đi.

Khi dùng, người ta có thể dùng vỏ hầu tán nhò, hoặc nung rồi mới tán nhỏ.

c. Thành phẩn hoá học

Vỏ hầu hay mẫu lệ chứa 80-95% canxi cacbonat, canxi photphat và canxi suníat. Ngoài ra còn có magiê, nhôm và sắt ôxyt, chất hữu cư. Nhưng khi nung lên thì không còn chất hữu cơ nữa.

Thịt hầu chứa 68% nước, 7% protit, 4% gluxit, 2% chất béo và ỉ% muối khoáng. Người ta thấy thành phần chất dinh dưỡng của hầu có thể so sánh với sữa bò (86% nước, 3,3% chất protit, 5% gluxit, 4% chất béo và 0,7% muối khoáng).

D. Còng dụng và liều dùng

Ngoài công dụng của thịt hầu làm thức ăn quý (ăn tươi, phơi khô hoặc đóng hộp), người ta còn dùng vỏ hầu để nung vôi, làm thức ăn có chất canxi cho gia súc và làm phân bón ruộng.

Trong đông y, mẫu lệ được dùng làm thuòc chữa bệnh đau dạ dày thừa nước chua, bồi bổ cơ thể suy nhược, mồ hôi trộm, băng huyết. Dùng ngoài để chữa mụn nhọt, lở loét. Theo tài liệu cổ mẫu lệ vị mặn, chát, tính hoi hàn, vào 3 kinh can, đởm và thận. Có tác dụng tư âm (nuôi âm) liểm dương, hoá đờm, cố sáp. Dùng chữa cốt nhiệt, di tinh băng đới, mổ hôi trộm. Những người hư mà hàn, thản hư vô hoả, tinh lanh tự xuất thì không dùng được.

Ngày dùng 3 đến 6g dưới dạng thuớc sắc, thuốc bột hay thuốc viên.

Đơn thuốc có mẫu lệ trong đông V

  1. Thuốc bổ, chữa bệnh có nhiều mâ hôi.

Mẫu lệ lOg, hoàng kỳ 4g, ma hoàng căn 4g, cám lOg, nước 600ml. sắc còn 200ml, chia làm nhiểu lần uống trong ngày.

  1. Thuốc chữa khí hư, bạch đới:

Hoa hoè 40g, mẫu lệ (nung rồi tán nhỏ) 40g.

MAI Mực

Cỏn gọi là mán chỉ, đôi cầy, chàm hôi, tráng, ớt rừng, lãng ớt, mak so mát, may bi canh, mak khèn (Lào), hang chang (Mường), tomlay khouang, leai sma…

Còn gọi là Cây chay.