Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam Nhà xuất bản Y học Năm 2004
Chịu trách nhiệm xuất bản: DS. HOÀNG TRỌNG QUANG Biên tập: ĐẶNG THẾ VĨNH HOÀNG TRỌNG QUANG ĐỖ THANH BÌNH Sửa bản in: ĐỖ TẤT LỢI NGUYỄN DUY DINH Trình bày bìa: VĂN SÁNG Tham gia vẽ hình: DS. BÙI XUÂN CHƯƠNG Làm chế bản: KHUẤT DUY LINH ANH
In 1.000 cuốn, khổ 19 x 27 cm, tại Công ty In Công Đoàn Việt Nam, 167 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội. Giấy phép XB số: 372-97/XB-QLXB cấp ngày 6/2/2004. in xong và nộp lưu chiểu tháng 6 năm 2004.
LỜI GIỚI THIỆU
Giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất Lợi là một nhà nghiên cứu dược liệu nổi tiếng ở nước ta. Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Y Dược thời thuộc Pháp (1939 - 1944), ông đã quan tâm đến việc tìm tòi sưu tầm các cây thuốc và động vật làm thuốc có ở Việt Nam sử dụng trong y học cổ truyền. Từ những ngày đầu kháng chiến, dược sĩ Đỗ Tất Lợi với cương vị Viện trưởng Viện khảo cứu chế tạo dược phẩm Cục quân y, đã chịu khó đi công tác trên núi rừng Việt Bắc tìm kiếm sưu tẩm các cây thuốc phòng chữa bệnh cho bộ đội và nhân dân. Sau ngày hoà bình lập lại, với nhiệm vụ Chủ nhiệm bộ môn dược liệu Trường đại học y dược Hà Nội, Ông đã say mê nghiên cứu về dược liệu, các vị thuốc Việt Nam và các cây di thực từ nước ngoài.
Sau mấy chục năm lăn lộn với việc sưu tầm nghiên cứu dược liệu, GS. TS. Đỗ Tất Lợi đã biên soạn được bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” xuất bản đến nay là lần thứ tám. Đây là một công trình nghiên cứu rất có giá trị ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Trên cơ sở cuốn sách này, năm 1968 Hội đồng chứng chỉ (khoa học) tối cao Liên Xô đã công nhận học vị Tiến sĩ khoa học cho dược sĩ Đỗ Tất Lợi. Năm 1983, tại Triển lãm hội chợ sách quốc tế Matxcơva, bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” được bình chọn là một trong bảy viên ngọc quí của triển lãm sách. Đến năm 1980, dược sĩ được Chính phủ phong học hàm Giáo sư đại học.
Từ năm 1960 đến nay, mỗi lần xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” tác giả đều sửa chữa bổ sung một cách thận trọng. Và ngay trong lần xuất bản thứ tám này, tuy tuổi dã cao, Giáo sư Đỗ Tất Lợi đã để mấy năm rà soát, sửa chữa lại nội dung cũ, sưu tầm nghiên cứu thêm một số cây mới, vị thuốc mới và hoàn chỉnh bản thảo một cách nghiêm túc. Lần này tác giả, trong phần phụ lục, có viết thêm hai bài nói về thân thế và sự nghiệp của cụ Tuệ Tĩnh (ông Thánh thuốc Nam) và của nhà đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” lần này được xuất bản sau khi tác giả được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật lần đầu năm 1996. Do đó giá trị cuốn sách lại càng được nâng cao.
Tôi lấy làm vinh dự được giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài ngành y tế cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” (xuất bản lần thứ tám), một công trình đã được xếp trong loại giải thưởng cao nhất ở nước ta hiện nay - Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Hy vọng bạn đọc sẽ tìm thấy trong cuốn sách nhiều điểu bổ ích và sử dụng tốt cuốn sách nảy trong nghiên cứu cũng như trong đời sống hàng ngày, nhằm bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và cho cộng đồng.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 1999
Bộ trưởng Bộ Y tế
Giáo sư ĐỖ NGUYÊN PHƯƠNG
LỜI TÁC GIẢ NHÂN DỊP CUỐN SÁCH “ XUẤT BẢN LẦN THỨ XII
Trong thời gian vừa qua, chúng tôi có nhận được một số góp ý của bạn đọc trong và ngoài nước về nội dung cuốn sách qua hộp thư dotatloi@hotmail.com. Chúng tôi xin cảm ơn những đóng góp quí báu đó và hứa sẽ tìm hiểu, kiểm tra thực tế và sớm có các bổ sung với mong muốn cuốn sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” ngày một hoàn chỉnh hơn nhằm đáp ứng được những yêu cầu của bạn đọc.
Trong lần in này, chúng tôi có bổ sung thêm hình vẽ (đen trắng) cây Duyên hồ sách và Trinh nữ hoàng cung, tiếp tục chỉnh sửa các lỗi được phát hiện trong lần in trước, các sai sót về tên La-tinh, họ thực vật được bạn đọc góp ý.
Chúng lôi rất mong các bạn tiếp tục phát hiện những thiếu sót để chúng tời kịp thời bổ sung, sửa chữa.
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ: binhdothanhhn@yahoo.com hoặc dotatloi@hotmail.com.
Tháng 05 năm 2004
Tác giả ký tên
TODO: thêm chữ ký của tác giả
Phần I: PHẦN CHUNG
I. MỘT SỐ ĐIỂM CẦN CHÚ Ý KHI SỬ DỤNG THUỐC NAM
Thuốc đông (bao gồm cả thuốc nam và thuốc bắc) là những vị thuốc kinh nghiệm của ông cha ta, có tác dụng chữa bệnh tốt, dễ kiếm, lại rẻ tiền, việc sử dụng tương đối dễ dùng, nhưng việc sử dụng chỉ mới dựa vào kinh nghiệm và học thuyết âm dương ngũ hành của triết học phương đông còn ít người hiểu, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở khoa học hiện đại. Có người nói thuốc bắc là thuốc nhập của Trung Quốc. Sự thực, không phải thuốc nào nhập của Trung Quốc cũng gọi là thuốc bắc. Ví dụ ta nhập của Trung Quốc gồm có phục linh, đương quy, bạch truật, hoàng kỳ… và penixilin, sunfamit, glucoza… nhưng chỉ gọi các vị phục linh, đương quy, bạch truật, hoàng kỳ là thuốc bắc, còn penixilin, sunfamit thì lại gọi là thuốc tây nhập của Trung Quốc.
Có người gọi thuốc nam là thuốc sản xuất ở trong nước. Sự thực, ta cũng lại chia thuốc sản xuất ở trong nước ra hai loại thuốc tây bào chế ở Việt Nam và thuốc nam thực sự. Thuốc nam, theo định nghĩa ở trên, được nhân dân một số nơi ở miền Nam gọi là “thuốc vườn” vì có thể kiếm quanh vườn.
Do thuốc đông, trong đó có thuốc nam phần lớn chưa được giải thích trên cơ sở khoa học, cho nên một số người thường đòi hỏi ta phải nghiên cứu để biết trong vị thuốc đó có những hoạt chất gì, cơ chế tác dụng ra sao rói mới sử dụng.
Một số người thường quan niệm việc nghiên cứu thuốc khá đơn giản, nhanh chóng. Thực tế, nó không đơn giản, nhanh chóng như ta đã nghĩ.
Khó khăn này không phải chỉ riêng đối với nước ta do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, mà còn là khó khăn chung đối với nhiều nước trên thế giới có nền khoa học tiên tiến, vì đối tượng nghiên cứu là những cây thuốc, động vật làm thuốc là những sinh vật còn chứa đựng nhiều bí mật chưa khám phá ra được. Vì vậy ở ngay những nước có nền khoa học tiên tiến, bên cạnh những thuốc đã biết rõ cấu tạo, cơ chế, còn rất nhiều vị thuốc được nhân dân tiếp tục sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền, mà người ta thường gọi là y học nhân dân.
Thường phải rất lâu, ta mới thấy các nước đó đưa được một vị thuốc từ lĩnh vực y học nhân dân sang lĩnh vực y học khoa học.
Ở nước ta, lĩnh vực y học nhân dân rất rộng lớn. Những kinh nghiệm đó nằm rải rác trong nhân dân. Nhiều thuốc có tác dụng chữa bệnh rõ rệt, nhưng ta chưa thể giải thích và chứng minh được bằng khoa học hiện đại.
Phương châm kết hợp đông y và tây y của Đảng và của ngành y tế đề ra đòi hỏi chúng ta phải vừa áp dụng những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta bằng thuốc nam, vừa tiến hành nghiên cứu, chứ không đợi nghiên cứu xong rồi mới sử dụng. Vì những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta đã được thực tế chứng minh trên người thực, bệnh thực từ bao đời nay rồi.
-
Nhưng vì những kinh nghiệm đó thường chỉ được truyền miệng từ người này qua người khác, qua mỗi người lại thay đổi một tí, có khi bị che dấu, xuyên tạc do người có kinh nghiệm muốn giữ độc quyền, cho nên trong công tác điều tra sưu tầm bài thuốc cũng như khi áp dụng những kinh nghiệm nhân dân, vấn đề quan trọng là phải biết phân biệt kinh nghiệm thực sự và kinh nghiệm dễ bị xuyên tạc, thần bí hóa.
Trong bộ sách này, chúng tôi chỉ giới thiệu những vị thuốc phát hiện trong nhân dân mà chúng tôi đã có dịp kiểm tra lại về mặt thực giả, tốt xấu, bản thân có dịp sử dụng hay chứng kiến sử dụng. Chúng tôi lại đã tham khảo đối chiếu nhiều năm qua các tài liệu cổ, tài liệu mới ở trong và ngoài nước.
-
Một đặc điểm nữa của thuốc nam hiện nay là tên gọi vị thuốc chưa thống nhất: cùng một cây có khi mỗi nơi gọi một khác (sài đất tại một vài đại phương tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ gọi là húng trám), hoặc nhiều cây khác hẳn nhau lại cùng mang một tên (như bồ công anh, nhân trần, cam thảo). Cho nên khi sử dụng cần chú ý phân biệt, nếu không, kết quả điều trị không thống nhất sẽ ảnh hưởng tới sự tin tưởng vào thuốc nam. Sự thiếu thống nhất này làm công tác điều trị và nghiên cứu của chúng ta thêm phức tạp, nhưng trái lại, nếu biết vận dụng, lại làm cho công tác điều trị và nghiên cứu thêm phong phú, độc đáo. Trong khi giới thiệu vị thuốc, hình vẽ, phần mô tả cây và những cây thực trồng ở vườn thuốc địa phương sẽ giúp chúng ta phân biệt được cây nọ với cây kia.
-
Biết đúng cây thuốc rồi, nhưng còn cần thu hái đúng mùa, đúng lúc cây thuốc, vị thuốc có chứa nhiều hoạt chất nhất (ví dụ: ổi xanh ăn chát, ổi chín ăn thơm và ngọt); dùng đúng bộ phận cây để làm thuốc (ví dụ: dầu thầu đầu uống vào có tác dụng tẩy, nhưng ăn hạt thầu đầu thì có thể gây ngộ độc chết người; thịt cóc ăn được nhưng da cóc, trứng cóc gây ngộ độc chết người); chế biến phải đúng phép (ví dụ: hạt thảo quyết minh dùng sống thì gây tẩy hay nhuận tràng, sao vàng hay sao đen thì không còn thấy tác dụng tẩy nữa). Có như vậy mới bảo đảm hiệu lực thực tế của thuốc. Ngay cả việc sử dụng thuốc tươi hay thuốc khô nhiều khi cũng đưa lại những kết quả khác hẳn nhau (ví dụ ta có thể ăn chuối khô, nhãn khô, vải khô, nhưng không ai ăn mía phơi khô) vì trong quá trình phơi hay sấy khô có thể có một số hoạt chất bị phá hủy.
Để cho vị thuốc khô giữ được tác dụng như lúc còn tươi, đối với một số vị thuốc ta có thể đem đồ hơi nước sôi trong vòng 3 đến 5 phút trước khi đem phơi hay sấy khô. Dạng thuốc sắc, thuốc viên hay thuốc rượu đều ảnh hưởng ít nhiều đến tác dụng chữa bệnh của đơn thuốc hay vị thuốc.
Kinh nghiệm bản thân chúng tôi thấy dạng thuốc sắc đóng ống rồi hấp tiệt trùng như những thuốc ống để uống là một dạng thuốc để lâu không hỏng, gần giống hình thức thuốc sắc dùng trong nhân dân, lại dễ làm. Với dạng thuốc này, chúng ta có thể theo dõi tác dụng của một bài thuốc hay vị thuốc một cách tương đối chính xác.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng đối với từng vị thuốc cụ thể, ta có thể tìm một dạng thuốc thích hợp hơn, tiện dụng hơn, rẻ hơn mà vẫn bảo đảm hiệu quả. Cho nên chúng tôi nghĩ, chính trong quá trình nghiên cứu sử dụng thuốc nam, công tác chế biến, bào chế nhất định sẽ thu được những kết quả quan trọng.
-
Để bảo đảm nguồn nguyên liệu lâu dài hiệu lực đồng đều, song song với việc khai thác cây thuốc mọc hoang, cần tiến hành nghiên cứu trồng nuôi cây, con làm thuốc. Trong thực tế công tác, chúng ta sẽ thấy nhiều vấn đề tưởng như dễ nhưng rất khó (ví dụ tại Hà Nội, nhiều người trồng cây sử quân tử, tuy ra rất nhiều hoa nhưng không kết quả) và ngược lại có nhiều vấn đề thoạt nhìn tưởng khó nhưng làm lại dễ.
-
Đối với tác dụng của thuốc nam, bên cạnh một số tên bệnh và triệu chứng bệnh có sự phù hợp giữa tây y và đông y, chúng ta còn chưa hài lòng về một số khả nhiều những danh từ bệnh khá mơ hồ như đau bụng, ho, hậu sản, cam, v.v… Trách nhiệm của người thầy thuốc là phải theo dõi tác dụng của thuốc trên lâm sàng, có đủ những xét nghiệm, phương tiện chẩn đoán hiện đại để dần dần có thể viết lại những tên bệnh, triệu chứng tật bệnh theo đúng như khoa học y học hiện đại. Có như vậy chúng ta mới thực hiện đúng chủ trương thừa kế nhưng phải phát huy hết vốn cũ của ông cha ta. Chúng ta không thể đứng ngoài mà chê trách các cụ lương y, các tài liệu y học cũ là lạc hậu, là mơ hồ để rồi không dùng, không theo, mà thái độ đúng của chúng ta là phải nghiên cứu tìm hiểu trên thực tế những tên bệnh đó tương ứng với những bệnh theo nghĩa khoa học y học hiện đại.
Để tiện cho các bạn tham khảo, đối chiếu, trong phạm vi có thể, ngoài những tên bệnh mới, chúng tôi đều có ghi tác dụng và tính chất của vị thuốc theo các tài liệu cổ, theo tiếng nói của các cụ lương y. Kinh nghiệm bản thân tôi, là những tính chất và tác dụng đó tuy viết theo những danh từ cổ, nhưng cũng giúp ta một ý niệm quan trọng về những chỉ định của người xưa để có thể rút kinh nghiệm vận dụng trong điều kiện hiện nay.
Mặc dầu chóng tôi đã cố gắng để có nhiều tài liệu và dẫn chứng Việt Nam, nhưng chúng tôi vẫn tiếc rằng còn quá ít, vì phần lớn những kinh nghiệm dùng thuốc nam chưa được chính thức công bố.
Chúng tôi hy vọng rằng với chủ trương đẩy mạnh sử dụng thuốc nam có theo dõi, tổng kết, tập tài liệu này sẽ ngày được bổ sung thêm nhiều những dẫn chứng và số liệu Việt Nam.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÌM THUỐC VÀ TÁC DỤNG CỦA THUỐC THEO ĐỐNG Y
A. Nguồn gốc phát hiện ra thuốc
Việc dùng thuốc trong nhân dân ta đã có từ lâu đời. Từ thời nguyên thủy, tổ tiên chúng ta trong lúc tìm kiếm thức ăn, có khi ăn phải chất độc phát sinh nôn mửa hoặc đi ỉa lỏng, hoặc hôn mê có khi chết người, do đó dần dần có nhận thức phân biệt được vị nào ăn được, vị nào có độc.
Kinh nghiệm dần dần tích lũy, không những giúp cho loài người biết lợi dụng tính chất của cây cỏ để làm thức ăn mà còn biết dùng làm thuốc chữa bệnh, hay dùng những vị có chất độc để chế tên thuốc độc dùng trong săn bắn hay trong lúc tự bảo vệ chống ngoại xâm. Lịch sử nước ta cho biết ngay từ khi lập nước nhân dân ta dã biết chế và sử dụng tên độc làm cho bọn xâm lăng khiếp sợ.
Như vậy việc phát minh ra thuốc đã có từ thượng cổ, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tìm tòi thức ăn mà có được. Nguồn gốc tìm ra thức ăn, thuốc và cây có chất độc chỉ là một. Về sau dần dần mới biết tổng kết và đặt ra lý luận. Hiện nay, đi sâu vào tìm hiểu những kinh nghiệm chữa bệnh trong nhân dân Việt Nam, chúng ta có thể dễ dàng phân biệt hai loại người làm thuốc. Một loại chỉ có kinh nghiệm chữa bệnh, không biết hay ít biết lý luận, kinh nghiệm cứ cha truyền con nối mà tồn tại, mà phát huy, loại người này chiếm chủ yếu tại các vùng dân tộc ít người. Loại người thứ hai biết dùng thuốc nhưng thêm phần lý luận, loại này chiếm chủ yếu ở thành thị và những người có cơ sở lý luận cho rằng vua Thần Nông(1) là người phát minh ra thuốc. Theo truyền thuyết, một ngày vua Thần Nông nếm 100 cây cỏ để tìm thuốc, có khi một ngày ngộ độc tới 70 lần, rồi soạn ra sách thuốc đầu tiên gọi là “Thần Nông bản thảo”. Trong bộ này có ghi chép tất cả 365 vị thuốc và là một bộ sách thuốc cổ nhất của đông y (chừng 4.000 năm nay). Nhưng theo các nhà nghiên cứu khoa học hiện nay, vua Thần Nông nói ở đây không phải là một người, mà là kinh nghiệm của nhiều người tích lũy lại, ghi chép thành sách, rồi để để truyền bá để gây tin tưởng, tác giả bộ sách đã đặt ra truyền thuyết về vua Thần Nòng nếm cỏ cây tìm thuốc, thời gian viết cũng không phải xa như vậy, chỉ vào khoảng thế kỷ thứ hai.
Qua thực tiễn, chúng ta thấy không thể có một người nào đúc kết được tất cả những kinh nghiệm dùng thuốc mà chỉ sưu tầm, ghi chép lại cho có hệ thống mà thôi.
B. Tên các vị thuốc
Việc đặt tên các vị thuốc và đơn thuốc trong đông y dựa trên một số nguyên tắc sau đây:
-
Căn cứ vào tính chất của vị thuốc mà đặt tên. Ví dụ: Vị phòng phong do hai chữ phòng là phòng ngự, phong là gió, vì vị thuốc có tác dụng chữa những bệnh do cảm gió, đau các khớp xương, nhức đầu, chóng mặt v.v… Ích Mẫu: Vị thuốc có ích cho người mẹ, phụ nữ sau khi sinh nở. Quyết minh tử: Hạt uống vào sáng mắt. Tục đoạn: Tục là nối, đoạn là đứt gãy, vì vị thuốc có tác dụng nối liền được gân cốt đứt gãy.
-
Căn cứ vào khí vị mà đặt tên Ví dụ: Xạ hương do chữ xạ là loại thú giống loài hươu, hương là có mùi thơm. Đinh hương: Vị thuốc giống cái đinh mà lại có mùi thơm. Hồi hương: Vị thuốc có mùi thơm như hồi. Cam thảo: Cam là ngọt, thảo là cỏ, vì vị thuốc có vị ngọt. Tế tân: Tế là nhỏ, tân là cay - vị thuốc là những rễ nhỏ, có vị cay. Khổ sâm: Khổ là đắng, sâm là sâm - vị thuốc giống sâm có vị đắng.
-
Căn cứ vào hình dạng mà đặt tên Ô đầu: Ô là quạ, đầu là đầu, vì vị thuốc trông giống đầu con quạ. Cẩu tích: Do chữ cẩu là chó, tích là lưng, vì vị thuốc trông giống lưng con chó. Ngưu tất: Ngưu là trâu, tất là đầu gối, vì thân có đốt phình ra giống đầu gối con trâu. Câu đằng: Do chữ câu là lưỡi câu, đằng là dây leo, vì vị thuốc là một thứ dây leo có gai cong giống như lưỡi câu.
-
Căn cứ vào màu sắc mà đặt tên Hoàng liên: Hoàng là vàng, liên là liên tiếp, vì vị thuốc có màu vàng, rễ mọc liên tiếp. Hồng hoa: Vì thuốc là một thứ hoa có màu hồng da cam, Huyền sâm: Huyền là đen - một thứ sâm có màu đen. Tử thảo: Tử là tím, thảo là cỏ, vị thuốc có màu tím. Thanh đại: Thauh là xanh, đại là sắc lông mày; ngày xưa có tục cạo lông mày, vẽ thuốc này vào. Vị thuốc chế từ cây chàm nhuộm vải.
-
Căn cứ vào cách sống của cây mà đặt tên Hạ khô thảo: Vị thuốc đến mùa hạ thì khô héo. Bán hạ: Vị thuốc có củ hái vào giữa mùa hạ (bán là một nửa). Nhẫn đông: (tên khác của vị kim ngân) vì cây này chịu đựng được mùa đông mà không khô héo (nhẫn là chịu đựng). Tang ký sinh: Tang là cây dâu tằm, ký sinh là sống nhờ, vì cây này sống nhờ trên cây dâu tằm.
-
Căn cứ vào bộ phận dùng mà đặt tên Nguyên tắc này hay được áp dụng, vì thường người ta chỉ hay dùng một bộ phận của cây hay con vật. Tang diệp: Tang là cây dâu tằm; diệp là lá, vì vị thuốc là lá dâu. Cúc hoa: Hoa cây cúc. Quế chi: Cành cây quế (chi là cành). Cát căn: Cát là sắn, căn là rễ, vị thuốc là rễ cây sắn. Tô tử: Tử là hạt, tô là tía tô, vị thuốc là hạt cây tía tô. Miết giáp: Mai con ba ba, vì miết là con ba ba, giáp là áo, là mai. Hổ cốt: Xương hổ; cốt là xương.
-
Căn cứ vào tên người dùng Vị thuốc đầu tiên Đỗ trọng: Người đầu tiên dùng vị này tên là Trọng họ Đỗ. Hà thủ ô: Hà là họ Hà, thủ là đầu, ô là quạ, có nghĩa là ông lão họ Hà tóc đang bạc dùng thuốc này dần trở thành đen như đầu quạ. Sử quân tử: Chính là sứ quân tử vì xưa kia có một vị sứ quân họ Quách chuyên dùng vị thuốc này chữa bệnh trẻ em, do đó đặt tên là hạt của ông sứ quân (tử là hạt).
-
Căn cứ vào tên ngoại quốc phiên âm ra Actisô: phiên âm tiếng Pháp: Artichaut, Man-đà-la-hoa: (một tên khác của vị cà độc dược) phiên âm tiếng Ấn Độ có nghĩa là cây có màu sặc sỡ. Hồ tiêu:: Một thứ tiêu mọc ở đất nước Hồ. Phiên mộc miết: (tên khác của mã tiền) vị thuốc giống con ba ba gỗ ở nước Phiên (mộc là gỗ, miết là ba ba).
-
Theo nơi sản xuất mà đặt tên Ba đậu: Hạt như hạt đậu sản xuất đất Ba Thục. Thường sơn: Vị thuốc được thấy lần đầu tiên ở núi Thường Sơn (thuộc đất Ba Thục tức Tứ Xuyên, Trung Quốc hiện nay). A giao: A là huyện Đông A, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, giao là keo, là thứ keo chế từ da con lừa nấu với nước giếng ở huyện Đông A.
Có khi cùng một vị thuốc, nhưng vì nơi sản xuất có tiếng là tốt, người ta thêm tên nơi sản xuất vào như xuyên hoàng liên (hoàng liên của tỉnh Tứ Xuyên), nhưng nhiều khi tuy cùng một tên thuốc thêm tên địa phương vào tưởng là cùng một loài cây nhưng thực ra lại là hai cây khác nhau, ví dụ xuyên bối mẫu và triết bối mẫu (bối mẫu tỉnh Triết Giang) là hai vị thuốc thuộc hai cây khác nhau; xuyên bối mẫu chữa hư lao, ho khan, còn triết bối mẫu chữa ho cảm, ho gió.
Lại có khi cùng tên một vị thuốc, nhưng thêm chữ nam hay chữ thổ vào thì lại là vị chuốc hoàn toàn khác. Ví dụ nam hoàn liên có khi là cây hoàng đằng, hay cây Thalictrum, vị cam thảo nam là cây Scoparia dulcis hay cây Abrus precatorius trong khi cam thảo bắc là cây Glycyrrhiia uralensis hay G. glabra, hay vị phục linh là một loại nấm còn thổ phục linh là một loại thân rễ của một cây thuộc họ thực vật khác hẳn. Tính chất chữa bệnh có khi giống nhau, có khi lại khác hẳn nhau. Do đó cần thận trọng trong việc xem tên vị thuốc.
C. Tên bài thuốc
Tên bài thuốc cũng dựa vào một số nguyên tắc chung:
-
Có khi căn cứ vào vị thuốc chính kèm theo tác dụng chủ yếu có kèm theo cả dạng thuốc Ví dụ: Hà sa đại tạo hoàn là bài thuốc có vị hà sa (nhau thai nhi) có tác dụng thay tạo hóa đem sức khỏe cho con người. Hoắc hương chính khí trong bài thuốc đó có vị hoắc hương. Tam tài thang trong đó có 3 tài là thiên (môn đông), địa (hoàng) và nhân (sâm).
-
Căn cứ vào thành phần của đơn thuốc Ví dụ: Lục nhất tấn đơn thuốc gồm 6 phấn hoạt thạch, 1 phần cam thảo (lục là sáu, nhất là một). Thập toàn đại bổ gồm 10 vị thuốc bổ phối hợp với nhau. Lục vị hoàn hay lục vị địa hoàng hoàn gồm 6 vị thuốc phối hợp với nhau. Tam sà đởm trần bì trong đó có 3 loại mật rắn phối hợp với vị trần bì.
D. Phân loại thuốc trong đông y
Việc phân loại thuốc theo đông y thay đổi tùy theo từng thời kỳ và tùy theo sự hiểu biết của người ta về vị thuốc.
Từ xưa đến nay đã có những lối phân loại chủ yếu sau đây:
-
Trong bộ Thần Nông bản thảo (một bộ sách thuốc cổ nhất của đông y) người ta ghi chép tất cả 365 vị thuốc chia làm 3 loại: Thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.
Thuốc thượng phẩm gồm các vị thuốc có tác dụng mà lại không độc.
Thuốc trung phẩm gồm các vị thuốc có tác dụng nhưng có độc.
Thuốc hạ phẩm gồm những vị thuốc có tác dụng nhưng rất độc.
-
Về sau trong bộ Lôi Công dược đối, người ta lại chia thuốc ra làm 10 loại: Tuyên (giải rộng ra), thông, bổ, tiết, khinh, trọng, sáp, hoạt, táo, thấp. Về sau có người gọi lối phân loại đó là thập tê. Dù sao lối phân loại này cũng giống như trong Thần Nông bản thảo, chia thuốc theo tính chất chữa bệnh.
-
Đến đời nhà Minh, (Trung Quốc) Lý Thời Trân trong bộ sách của ông là Bản thảo cương mục, đã chia thuốc làm 16 bộ là: Thủy (thuốc lỏng như nước), hỏa (lửa), thổ (thuốc thuộc về đất), kim (kim loại), mộc (cây), thạch (đá), thảo (cỏ), cốc (ngũ cốc), thái (rau), quả, phục khí (gấm vải, bông, áo của người có bệnh), trùng (sâu bọ), lân (thuốc lấy ở giống vật có vẩy), giới (động vật có vỏ như con trai, con cua), cầm (chìm), thú (giống vật), nhân (người).
Mỗi bộ lại chia nhỏ thành mấy loại như bộ thảo lại chia ra sơn thảo (cỏ ở núi), phương thảo (cỏ có mùi thơm), thấp thảo (cỏ mọc nơi ẩm ướt) độc thảo (cỏ có độc), mạn thảo (cỏ leo), thủỵ thảo (cỏ mọc ở dưới nước), thạch thảo (cỏ mọc trên đá), thai (rêu), tạp thảo (linh tinh). Như vậy là đến Lý Thời Trân bắt đầu phân loại theo hình thái vị thuốc. Lối phân loại theo tác dụng chữa bệnh giúp cho người làm công tác điều trị, còn lối phân loại theo hình thái giúp cho người tìm thuốc và phân loại tốt xấu.
Ở nước ta, từ thế kỷ thứ 17, Tuệ Tĩnh(2) tác giả bộ Nam dược thần hiệu, đã phối hợp cả hai lối phân loại: mở đầu bộ sách Tuệ Tĩnh phân loại thuốc theo hình thái thành 23 loại thuốc: Loại cỏ hoang, loại cỏ dây, loại cỏ nước, loại ngũ cốc, loai chim v.v… Những phần sau, Tuệ Tĩnh phân loại thuốc theo tật bệnh do đó cả thầy thuốc lẫn người tìm thuốc đều dễ sử dụng.
-
Trong các tập bản thảo, người ta còn giới thiệu tính chất thuốc theo hàn, nhiệt, (thuốc nóng, thuốc lạnh), hay thuốc vào kinh lạc này hay kinh lạc khác. Muốn hiểu cách phân loại này cần hiểu qua cơ sở lý luận âm dương ngũ hành của đông y.
E. Khái niệm về cơ sở lý luận trong đông y
Ở đây chúng tôi chỉ đóng khung trong việc giới thiệu những cơ sở lý luận có liên quan tới tác dụng của vị thuốc, mà không đi sâu vào việc vận dụng những lý luận đó trong điều trị.
Chúng ta biết rằng hiện nay trong giới đông y có những người chỉ biết một số đơn thuốc gia truyền kinh nghiệm, nhưng cũng lại có rất nhiều người trong khi điều trị tìm thuốc chế thuốc đều hay vận dụng những cơ sở lý luận rất đặc biệt của đông y.
Lý luận đó đúng sai thế nào, dần dần khoa học sẽ xác minh. Chỉ biết rằng hiện nay những nhà đông y đã vận dụng lý luận ấy để chữa khỏi một số bệnh và đã phát hiện một số thuốc mới. Cho nên chúng tôi nghĩ rằng ta cũng nên tìm hiểu tiếng nóỉ của những nhà đông y để có thể gẩn gũi họ mà học tập để rồi trên cơ sở những kinh nghiệm của họ, thừa kế và phát huy theo khoa học hiện đại.
Điều đáng chú ý là cơ sở lý luận của đông y đã có từ lâu mà không thay đổi cho nên có điều còn đúng, có điều đã sai rồi, không nên cái gì cũng coi là sai cả hay đúng cả.
Các nhà đông y coi người và hoàn cảnh là một khối thống nhất. Con người chẳng qua cũng là cơ năng của trời và đất thu nhỏ lại (nhân thân tiểu thiên địa). Cơ sở lý luận của đông y dựa vào quan niệm vũ trụ chung trong triết học Á đông hồi xưa. Quan niệm về vũ trụ này bao trùm nhiều ngành khoa học cổ khác như khí tượng, tử vi, địa lý v.v…
Theo quan niệm này vũ trụ khi mới sinh ra là một khối rất lớn gọi là thái cực: thái cực biến hóa sinh ra 2 nghi (lưỡng nghi) là âm và dương. Âm dương kết hợp với nhau để sinh ra 5 hành (ngũ hành) là kim, mộc, thủy, hỏa và thổ.
Ngũ hành sẽ lại kết hợp với nhau để tạo ra ba lực lượng bao trùm vũ trụ (tam tài) là thiên (trời), địa (đất) và nhân (con người), Trong mỗi lực lượng này lại có sự kết hợp chặt chẽ và cân bằng giữa âm dương, ngũ hành. Nếu thiếu sự cân bằng giữa âm và dương trong mỗi lực lượng hoặc thiếu sự cân bằng giữa ba lực lượng đó người ta sẽ mắc bệnh. Việc điều trị bệnh tật chẳng qua là lập lại được sự cân bằng của âm dương trong con người, giữa con người và trời đất.
Sau đây xin giới thiệu tương đối chi tiết hơn về âm dương ngũ hành là cơ sở của cả quan niệm về vũ trụ và vận dụng trong đông y.
G. Thuyết âm dương
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới tự nhiên, người xưa đỡ nhận xét thấy sự biến hóa không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương; tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).
Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hóa không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
Để biểu thị sự biến hóa không ngừng và quy luật của sự biến hóa đó người xưa đặt ra thuyết âm dương.
Âm dương không phải là mội thứ vật chất cụ thể nào, mà là thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật. Nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hóa và phát triển của sự vật.
Nói chung, phàm cái gì có tính cách hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, tiến lên, vô hình, nóng nực, sáng chói, rắn chắc, tích cực, đều thuộc dương.
Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ đều được quy vào âm dương.
Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: mặt trời, ban ngày, xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng.
Thuộc âm, ta có: mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh, nước, tối.
Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới, ngũ tạng, huyết, vinh.
Về bệnh tật thuộc dương thường khô khan, táo, ôn nhiệt, tiến mạnh, hay động, cấp tính, kinh giật. Bệnh thuộc âm thường ẩm thấp, nhuận, hàn, lạnh, giảm thoái, trầm tĩnh, suy yếu, mãn tính, tê liệt.
Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập, mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra nữa, hỗ trợ chế ức nhau mà tồn tại, không thể chỉ có âm hoặc chỉ có dương. Trong hình vẽ để hình tượng âm và dương người ta vẽ hai phần bằng nhau đen và trắng, trắng là dương, đen là âm, nhưng trong phần trắng có một điểm đen, trong phần đen có một điểm trắng có nghĩa là trong âm có mầm mống dương và trong dương có sẵn mầm mống của âm rồi.
Người xưa thường nói âm ở trong để giữ gìn cho dương, dương ở ngoài để giúp đỡ cho âm. Hoặc có âm mà không có dương, hay có dương mà không có âm thì tất nhiên một mình âm không thể phát sinh được, một mình dương không thể trưởng thành được.
Lại có người nói: trong âm có âm dương, trong dương cũng có âm dương, âm đến cực độ sinh ra dương, dương đến cực độ sinh ra âm tức là hàn đến cực độ sinh ra nhiệt, nhiệt đến cực độ sinh ra hàn.
H. Vận dụng thuyết âm dương trong y dược
-
Phòng bệnh. Muốn đề phòng bệnh tật giữ gìn sức khỏe, phải nắm vững quy luật biến hóa của giới tự nhiên và ứng với sự biến hóa đó, cần giữ gìn nhịp điệu thăng bằng giữa con người và ngoại cảnh.
Mùa xuân, mùa hạ thì dưỡng dương khí, mùa thu, mua đông thì dưỡng âm khí.
-
Chẩn đoán và điều trị. Khi chẩn đoán nhìn thấy (vọng) bệnh nhân mặt đỏ, tươi sáng, mắt sáng ngời, da hồng nhuận, thì phần nhiều bệnh thuộc chứng dương; nếu sắc mặt nhợt nhạt, sám tối, có khi xanh bầm hoặc vàng đen, mắt lờ đờ, cử động chậm chạp thì thuộc chứng âm.
Khi nghe (văn) bệnh nhân nói hay thở, thấy hơi thở, tiếng nói mạnh mẽ thì thuộc bệnh dương; hơi thở, tiếng nói nhỏ yếu thì thuộc bệnh âm.
Khi hỏi (vấn) bệnh nhân, thấy bệnh nhân nóng sốt, khát muốn uống nước luôn, đại tiện bị táo, phải nghĩ đến bệnh dương; trái lại nếu bệnh nhân sợ rét lạnh, đại tiện lỏng, chân tay mát, phải nghĩ đến bệnh thuộc âm.
Khi bắt mạch (thiết), nếu mạch phù nổi, đại (to), hoạt (nhanh) đó là mạch dương; trái lại nếu mạch trầm (sâu) vi (nhỏ), trì (chậm) đó là mạch âm. Khi chữa bệnh thì bệnh dương phải chữa ở âm; bệnh âm phải chữa ở dương, để điều hòa cho đến lúc thăng bằng thì thôi.
Nhưng cũng có khi bệnh như nhiệt mà cho uống thuốc hàn vào thấy nóng tăng lên, thì phải thấy loại nóng này là do âm hư, phải chữa bằng cách bổ âm; nếu bệnh nhân như hàn mà chữa thuốc nóng vào thấy rét thêm, loại rét này phải nghĩ đến do dương hư, nên chữa bằng thuốc trợ dương.
Trong phép điều trị bằng châm cứu cũng vậy, bệnh ở âm phải chữa dương, bệnh ở dương phải chữa âm.
Trong cơ thể người ta chia làm lục phủ, ngũ tạng thì lục phủ là đởm, vị, đại, tiểu trường, bàng quang, tam tiêu thuộc dương; ngũ tạng là tâm, can, lì, phế, thận thuộc âm.
Về khí huyết thì khí thuộc dương, huyết thuộc âm.
Nói về vinh vệ thì vệ thuộc dương, vinh thuộc âm.
-
Dùng thuốc. Thuốc đông y đại khái chia thành 4 khí 5 vị và thăng giáng, phù trầm.
4 khí là: lạnh và mát thuộc âm. ấm và nóng thuộc dương
5 vị thì: cay và ngọt phát tán là dương.
chua và đắng làm cho đi ngoài, nôn mửa là âm, mặn là âm.
nhạt làm cho tiêu thấp, lợi tiểu là dương.
Trong khí vị lại chia ra hậu (đậm đà, nồng nặc), bạc là nhạt nhẽo, nhẹ nhàng thì hậu thuộc âm, nhưng khí hậu lại thuộc dương, vị bạc thuộc dương ở trong âm và khí bạc lại thuộc âm ở trong dương.
Nói về thăng giáng phù trầm thì:
Thăng và phù (đi lên, nổi) thuộc dương, trầm và giáng (chìm và đi xuống) thuộc âm.
Hiểu được quy luật này thì sẽ hiểu lý luận dùng thuốc của đông y.
I. Thuyết ngũ hành
Thuyết ngũ hành về căn bản cũng là một cách biểu thị luật mâu thuẫn đã giới thiệu trong thuyết âm dương, nhưng bổ sung và làm cho thuyết âm dương hoàn bị hơn.
Ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.
Người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều chỉ do 5 chất đó phối hợp với nhau mà tạo nên.
Theo tính chất thì: thủy là lỏng, là nước thì đi xuống, thấm xuống.
Hỏa là lửa thì bùng cháy, bốc lên.
Mộc là cây, là gỗ thì mọc lên cong hay thẳng.
Kim là kim loại, thuận chiều theo hay đổi thay.
Thổ là đất thì để trồng trọt, gây giống được.
Tinh thần cơ bản của thuyết ngũ hành bao gồm hai phương diện giúp đỡ nhau gọi là tương sinh và chống lại nhau gọi là tương khắc.
Trên cơ ở sinh và khắc lại thêm hiện tượng chế hóa và tương thừa tương vũ.
Tương sinh, tương khắc, chế hóa, tương thừa tương vũ biểu thị mọi sự biến hóa phức tạp của sự vật.
Luật tương sinh. Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để sinh trường. Đem ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành đó quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau.
Theo luật tương sinh thì thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy lại sinh mộc và cứ như vậy tiếp diễn mãi, thúc đẩy sự phát triển không bao giờ ngừng.
Trong luật tương sinh của ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ về hai phương diện: cái sinh ra nó và cái nó sinh ra tức là quan hệ mẫu tử. Ví dụ kim sinh thủy thì kim là mẹ của thủy, thủy lại sinh ra mộc vậy mộc là con của thủy.
Trong quan hệ tương sinh lại có quan hệ tương khắc để biểu hiện cái ý thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau.
TODO: thêm ảnh ngũ hành
Luật tương khắc. Tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau. Trong quy luật tương khác thì mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc và mộc lại khắc thổ, và cứ như vậy tiếp diễn mãi.
Trong tình trạng bình thường, sự tương khắc có tác dụng duy trì sự thăng bằng, nhưng nếu tương khắc thái quá thì lại làm cho sự biến hóa trở ngại khác thường.
Trong tương khắc, mỗi hành cũng lại có hai quan hệ: giữa cái thắng nó và cái nó thắng. Ví dụ hành mộc thì nó khắc thổ, nhưng nó lại bị kim khắc nó.
Hiện tượng tương khắc không tổn tại đơn độc; trong tương khắc đã có ngụ ý tương sinh, do đó vạn vật tồn tại và phát triển.
Luật chế hóa. Chế hóa là chế ức là sinh hóa phối hợp với nhau. Trong chế hóa bao gồm cả hiện tượng tương sinh và tương khác. Hai hiện tượng này gắn liền với nhau.
Lẽ tạo hóa không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì không có đâu mà này nở; không có khắc thì phát triển quá độ sẽ có hại. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới có vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau.
Quy luật chế hóa ngũ hành là:
Note
Mộc khắc thổ, thổ sinh kim, kim khắc mộc.
Hỏa khắc kim, kim sinh thủy, thủy khắc hỏa.
Thổ khắc thủy, thủy sinh mộc, mộc khắc thổ.
Kim khắc mộc, mộc sinh hỏa, hỏa khắc kim.
Thủy khắc hỏa, hỏa sinh thổ, thổ khắc thủy.
Luật chế hóa là một khâu trọng yếu trong thuyết ngũ hành. Nó biểu thị sự cân bằng tất nhiên phải thấy trong vạn vật. Nếu có hiện tượng sinh khắc thái quá hoặc không đủ thì sẽ xảy ra những sự biến hóa khác thường. Coi bảng dưới chúng ta thấy mỗi hành đều có mối liên hệ 4 mặt: cái sinh ra nó, cái nó sinh ra, cái khắc nó và cái bị nó khắc.
Ví dụ: Mộc khắc thổ, nhưng thổ lại sinh kim, kim lại khắc mộc. Vậy như nếu mộc khắc thổ một cách quá đáng, thì con của thổ là kim tất nhiên nổi dậy khắc mộc kiểu như con báo thù cho mẹ. Nghĩa là bản thân cái bị khắc có đủ nhân tố chống lại cái khắc nó. Cho nên mộc khắc thổ là để tạo nên tác dụng chế ức, mà duy trì sự cân bằng. Khắc và sinh đều cần thiết cho sự gìn giữ thế cân bằng trong thiên nhiên.
Cũng trong bảng quan hệ chế hóa, chúng ta thấy mộc sinh hỏa; nếu chỉ nhìn hành mộc không thôi, thì như mộc gánh trọng trách gây dựng cho con là hỏa, nhưng nhờ có hỏa mạnh hạn chế bớt được sức của kim là một hành khắc mộc; như vậy mộc sinh con là hỏa, nhưng nhờ có con là hỏa mạnh mà hạn chế được kim làm hại mộc do đó mộc giữ vững cương vị.
K. Vận dụng thuyết ngũ hành trong việc xét tính chất thuốc và dùng thuốc.
Thuyết ngũ hành là một học thuyết triết học bao trùm mọi mặt vận động của vật chất trong vũ trụ. Y dược học cổ đã vận dụng học thuyết đó vào cơ thể và tính chất của thuốc.
Căn cứ vào hình thái tính chất của từng bộ phận trong cơ thể, của từng vị thuốc, người xưa đã quy nạp các vị thuốc vào từng hành một, rồi vận dụng những tính chất đó trong việc điều trị và tìm thuốc.
Ví dụ hành mộc là cây cỏ, thì màu xanh tươi, vậy, màu xanh thuộc hành mộc; những cây tươi tốt vào mùa xuân vậy mùa xuân cũng thuộc hành mộc; trong mùa xuân nếu có quả thường quả chưa chín thì có vị chua, vậy vị chua cũng thuộc hành mộc; nói đến cơ thể con người thì trong mùa xuân con người ta thích hoạt động, mà theo quan niệm đông y, sự hoạt động của con người do gan chi phối vậy gan (can) thuộc mộc. Cứ như vậy mà suy ra, người ta đã quy tất cả các bộ phận trong cơ thể và tất cả những vị thuốc đã biết vào 5 hành đó. Đối với những vị thuốc chưa quy nạp, có thể đựa vào mùi vị màu sắc mà suy ra.
Coi bảng hệ thống quy loại ngũ hành của một số hiện tượng sau:
TODO: thêm bảng quy loại ngũ hành
Trong bảng này chúng tôi chỉ trích giới thiệu một số hiện tượng và tính chất chính đã được quy nạp vào các hành. Trong các tài liệu cũ người ta quy nạp cả tiếng cười, tiếng khóc hay tình cảm như mừng lo, giận sợ vào ngũ hành.
Trên cơ sở tính chất đã quy nạp, người ta vận dụng vào việc tìm thuốc, chế thuốc chữa bệnh như sau:
Tìm thuốc. Căn cứ vào mùi vị, người ta cho vị thuốc này có tác dụng trên bộ phận này hay bộ phận khác trên cơ thể. Ví dụ một vị có vị ngọt, màu vàng thì sẽ tác dụng vào tỳ vị vì tỳ vị thuộc thổ, mà màu vàng vị ngọt thuộc thổ; một vị thuốc có vị cay, màu trắng thì sẽ tác dụng lên phổi (phế) vì phổi thuộc hành kim, màu trắng, vị cay cũng thuộc hành kim v.v…
Chế thuốc. Trong việc chế thuốc, người ta cũng vận dụng ngũ hành. Ví dụ muốn cho một vị thuốc tác dụng vào thận, người ta thường chế thuốc với đậu đen vì màu đen thuộc hành thủy mà thận lại thuộc hành thủy. Hoặc nếu phải tẩm thì cần tẩm nước muối vì muối có vị mặn, mà mặn thì thuộc thủy là hành của thận. Nếu muốn vị thuốc tác dụng lên gan và mật thì cần phải tẩm thuốc với giấm vì giấm có vị chua mà chua thì thuộc mộc là hành của gan và mật. Muốn vị thuốc tác dụng theo vào tỳ vị thì cần tẩm với mật, vì ngọt thuốc hành thổ mà thổ là hành của tỳ vị; cũng dựa theo lý luận đó mà người ta tẩm thuốc với đất vách màu vàng để thuốc tốt với tỳ vị vì màu vàng cũng thuộc hành thổ.
Trong việc điều trị người ta cũng vận dụng như vậy. Ví dụ: chảy máu thổ huyết. Huyết màu đỏ, thuộc hành hỏa; muốn chống với hành hỏa thì phải dùng hành thủy; hành thủy thì thuộc màu đen, vậy muốn chữa thổ huyết hay chảy máu, thuốc gì cũng phải đốt hay sao cho đen cháy đi. Như vậy là dùng tính chất khác nhau, chống nhau mà chữa bệnh. Muốn bồi bổ thì cũng phải dựa trên ngũ hành, ví dụ muốn bổ cho có thịt thì dùng thuốc có vị ngọt; chữa bệnh phổi dùng vị thuốc có vị cay như tinh dầu.
Nhưng cũng cần chú ý luật: thái quá có hại. Dùng chua quá, hay ăn chua quá thì sẽ hại gan v.v…
Chúng tôi cho rằng trong lúc khoa học chưa tiến bộ, thuyết âm dương ngũ hành cũng đã giúp cho ông cha ta những nguyên tắc chung trong việc tìm thuốc, chế thuốc cũng như trong việc điều trị. Do những lý luận ấy, tình cờ ông cha ta đã tìm ra những tác dụng giữa các vị thuốc với nhau buộc ta cần suy nghĩ để tìm được nguyên nhân theo khoa học hiện đại, mà duy trì hay thay đổi đi. Ví dụ như do cách nấu hà thu ô nhiều lần với đậu đen mà uống không chát nữa, sinh địa nấu đi nấu lại nhiều lần sẽ cho thục địa.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần tránh suy luận lung tung làm cho việc tìm thuốc, chế thuốc thêm phức tạp một cách vô ích, có khi làm giảm hay làm mất tác dụng của thuốc.
L. Tính chất của thuốc trình bày theo tác dụng trên các đường kinh lạc
Trong các sách cổ, ngoài việc trình bày tính chất của thuốc theo âm dương, hàn nhiệt, ngũ hành, nhiều khi còn giới thiệu tính chất của thuốc trên các đường kinh lạc.
Ví dụ: vị “mạn kính tử” khí thanh, vị bạc, phù mà thăng dương, vào các kinh túc thái dương (bàng quang kinh), túc quyết âm (can kinh), và túc dương minh (vị kinh) chủ chữa hàn nhiệt ẩn náu ở khoảng gân xương…
“Thạch xương bồ” là thuốc vào kinh thủ thiếu âm (tâm kinh) và túc thiếu âm (thận kinh), người nào tâm khí bất túc nên dùng nó (Lý thời Trân)…
Vậy ta nên hiểu qua một ít về kinh lạc áp dụng trong tính chất của thuốc. Kinh lạc trước tiên là cơ sở lý luận của phép châm cứu. Nhưng lý luận về kinh lạc lại liên quan chặt chẽ với thuyết âm dương ngũ hành cho nên cũng lại liên hệ chặt chẽ với những quan niệm về cơ thể và về thuốc giới thiệu ở các mục trên.
Chúng tôi thấy cần thiết giới thiệu phần kinh lạc liên quan đến tác dụng của thuốc để chúng ta có thể hiểu được các tài liệu cổ.
Ta biết rằng trong châm cứu, người xưa quan niệm rằng các cơ quan trong cơ thể của ta được chi phối bởi 14 đường kinh mạch chính.
14 đường kinh mạch đó gồm 6 đường ở tay, 6 đường ở chân và 2 đường kinh mạch ở giữa người. Tất cả phân phối như sau:
Ở tay có
- Kinh thủ thái dương còn gọi là tiểu trường kinh gồm 19 huyệt.
- Kinh thủ quyết âm còn gọi là tâm bào lạc kinh gồm 9 huyệt.
- Kinh thủ dương minh còn gọi là đại trường kinh gồm 20 huyệt.
- Kinh thủ thiếu dương còn gọi là tâm tiêu kinh gồm 23 huyệt.
- Kinh thủ thiếu âm còn gọi là tâm kinh gồm 9 huyệt.
- Kinh thủ thái âm còn gọi là phế kinh gồm II huyệt.
Ở chân có
- Kinh túc thái dương còn gọi là bàng quang kinh gồm 67 huyệt.
- Kinh túc quyết âm còn gọi là can kinh gồm 14 huyệt.
- Kinh túc dương minh còn gọi là vị kinh gồm 45 huyệt.
- Kinh túc thiếu dương còn gọi là đảm kinh gồm 43 huyệt.
- Kinh túc thiếu âm còn gọi là thận kinh gồm 27 huyệt.
- Kinh túc thái âm còn gọi là tỳ kinh gồm 21 huyệt.
Ở giữa người gồm hai đường kinh mạch là
- Đốc mạch kinh ở sau lưng gồm 28 huyệt
- Nhâm mạch kinh ở phía bụng gồm 24 huyệt.
Coi tên kinh mạch, chúng ta thấy mỗi kinh mạch lại chi phối một cơ quan trong cơ thể, mỗi cơ quan đó lại thuộc một trong ngũ hành.
Ví dụ: Kinh túc quyết âm hay can kinh và kinh túc thiếu dương hay đảm kinh thuộc hành mộc vị can và đảm thuộc mộc; mộc lại gồm những vị thuốc có màu xanh, vị chua. Vậy những vị thuốc có màu xanh vị chua thường hay vào kinh túc quyết âm và túc thiếu dương.
Kinh thủ thiếu âm hay tâm kinh và kinh thủ thái dương hay tiểu trường kinh đều thuộc hỏa vì tâm và tiểu trường thuộc hành hỏa; những vị thuốc sắc đỏ vị đắng thường vào kinh thủ thiếu âm và kinh thủ thái dương.
Trên cơ sở lý luận đó, ta có thể thấy.
- Những vị thuốc màu vàng, vị ngọt thuộc thổ sẽ vào kinh túc thái âm (tỳ kinh) và túc dương minh (vị kinh).
- Những vị thuốc màu trắng, vị cay thuộc kim sẽ đi vào các kinh thủ thái âm (phế) và thủ dương minh (đại tràng). ( # TODO: bản gốc bị lặp từ)
- Những vị thuốc màu trắng, vị cay thuộc kim sẽ đi vào kinh thủ thái âm (phế) và thủ dương minh (đại tràng)
- Những vị thuốc màu đen, vị mặn thuộc thủy, vào các kinh túc thiếu âm (thận) túc thái dương (bàng quang).
Chúng ta có thể tóm tắt sự phối hợp giữa màu sắc, mùi vị và tạng phủ với kinh lạc theo sơ đồ sau đây.
TODO: thêm ảnh ctú thích
III. BÀO CHẾ THUỐC THEO ĐÔNG Y
Mục đích của phương pháp bào chế theo đông y cũng giống như mọi phương pháp bào chế khác là:
- Làm cho vị thuốc tốt hơn lên bằng cách bỏ những bộ phận vô ích rơm rác, vỏ, hạt, v.v… không có tác dụng.
- Giảm bớt hay loại bỏ độc tính của vị thuốc hay những chất không cần thiết đối với một loại bệnh nhất định. Ví dụ rang thảo quyết minh khi không muốn dùng tác dụng tẩy của nó, hay sao toan táo nhân để khi dùng có quá liều vẫn gây ngủ được, không làm bệnh nhân bồn chồn, bứt rứt, hoặc loại bỏ hạt kim anh có độc.
- Giúp cho sự bảo quản dễ dàng hơn. Ví dụ đối với những loại thuốc có tinh bột hay có chất men lâu ngày làm giảm tác dụng chữa bệnh của vị thuốc thì đem đồ lên trước khi phơi để diệt men hay để làm chín một phần tinh bột.
Nói chung, phương pháp bào chế theo đông y cũng giống như bào chế tây y nhưng có một số danh từ và cách làm hơi khác. Tuy nhiên do không được đào tạo tại một trường nào cho nên hiện nay bên cạnh cái đúng, hợp lý có lẫn nhiều phương pháp phức tạp, cầu kỳ, đượm màu sắc mê tín không cần thiết. Ở đây chúng tôi chỉ chú ý giới thiệu một số danh từ đặc biệt tương đối thống nhất của phương pháp bào chế đó.
Ta có thể phân phương pháp bào chế đông y theo ba loại: dùng lửa, dùng nước và loại phối hợp cả nước và lửa.
-
Phương pháp bào chế chỉ dùng lửa
Chủ yếu gồm các phương pháp sau đây
a) Nung (đoàn): cho vị thuốc trực tiếp vào lửa hồng hoặc cho vào một chảo đất hay chảo gang để mà nung. Phép này thường dùng đối với các vị thuốc khoáng vật như lô cam thạch, hay các vị thuốc là vỏ sò, vỏ hà như mẫu lệ, thạch quyết minh v.v…
b) Vùi hay lùi (ổi): bọc vị thuốc vào giấy ẩm hay bột hồ ẩm rồi vùi tất cả vào tro nóng hay lửa nhẹ cho đến khi giấy hoặc bột hồ khô và cháy đen, giống như ta lùi bánh chưng. Sau khi để nguội, bóc lớp giấy hay bột hồ đi mà dùng vị thuốc ở trong. Trong phép này, bột hồ hay giấy ẩm hút bớt một phần chất dầu của vị thuốc, ví dụ khi ta chế nhục đậu khấu, cam toại.
c) Sao (rang): cho vị thuốc vào nồi hay chảo gang, chảo đất, đun nóng và đảo đều. Phương pháp này hay dùng nhất, có khi sao vàng, có khi sao đen. Ví dụ: bạch truật, mạch nha, hoài sơn sao vàng cho có mùi thơm; sơn tra, thần khúc, chi tử sao cháy đen có lẽ để dùng phần than.
Sao vàng hay sao đen đều phải giữ cho lửa đều; theo đông y khi sao như vậy vị thuốc tăng mùi thơm sẽ dễ vào tỳ vị hơn, hoặc vì một số vị thuốc là hạt khi sao dòn dễ vỡ, lúc sắc thuốc, dễ ngấm hơn. Những vị thuốc sao cháy thường với mục đích làm cho vị thuốc tăng thêm tính chất thu sáp nhưng sao cháy cần phải tồn tính nghĩa là tuy cháy đen, nhưng không được thành tro. Nếu thành tro tính chất của thuốc sẽ mất hết.
d) Trích: phép này rất hay dùng. Ví dụ người ta nói trích cam thảo. Trích là tẩm vào vị thuốc một chất gì mới khác, rồi mới đem sao hay nướng. Trích mật là vị thuốc tẩm mật rồi mới đem sao lên cho vàng. Trích khương là tẩm vị thuốc vào nước gừng rồi mới đem sao lên. Người ta còn trích tửu (rượu), giấm, trích hoàng thổ (đất màu vàng) trích muối hay mỡ.
e) Nướng: hơ vị thuốc lên lửa cho đến khi khô, vàng, dòn. Khi nói bổi là có nghĩa dung lửa mạnh hơn. Hồng là dùng lửa nhẹ hơn.
-
Phương pháp bào chế chỉ dùng nước
Thường phương pháp bào chế dùng nước để làm cho vị thuốc mềm mại, dễ thái mỏng, hoặc làm cho vị thuốc được tinh khiết, bớt độc tính, bớt quá mạnh. Phương pháp dùng nước bao gồm: rửa (tẩy), ngâm (phiêu), dội (bào), thủy phi.
a) Rửa (tẩy) là làm cho vị thuốc hết đất cát, bụi bẩn; không ngâm lâu.
b) Ngâm (phiêu) công việc này cũng như rửa nhưng thường kéo dài và phức tạp để làm cho vị thuốc hết mùi tanh, vị mặn ví dụ ngâm hải tảo, côn bố.
c) Dội còn gọi là bào, là cho vị thuốc vào nước lã hay nước sôi trong một thời gian rồi bóc vỏ ngoài hay chờ cho vị thuốc mềm rồi đem bào thái. Ví dụ ngâm hạnh nhân, đào nhân cho vỡ nở ra rồi xát bỏ đi; sau đó cắt bỏ đầu nhọn. Chú ý đừng ngâm lâu quá, chất thuốc tan trong nước và tác dụng của thuốc bị giảm. Trong phương pháp này có khi người ta ngâm với nước gạo, nước gừng, nước bổ kết, ngâm rồi lại phơi, phơi rồi lại ngâm làm nhiều lần như vậy (ví dụ chế bán hạ).
d) Thủy phi là thêm nước vào vị thuốc rồi cùng tán hay tán rồi cho vào nước khuấy lên để lắng, bột nhỏ lắng dưới, bột to ở trên.
Thường áp dụng khi chế hoạt thạch, chu sa, thanh đại.
-
Phương pháp phối hợp cả nước và lửa
Chủ yếu gồm có chưng (đổ), đun (chử), tôi (tốt), sắc (tiễn), cất.
a) Chưng hay đồ là đun cách thủy hay để vị thuốc vào một cái chõ dưới để nước mà đun cho đến khi chín. Ví dụ chưng sinh địa để chế thục địa. Chưng hà thủ ô với đậu đen.
b) Đun (chử) là cho vị thuốc vào nước lã hay vào nước ép một vị thuốc khác rồi đun sôi nhẹ cho thuốc chín hay chất của vị thuốc khác ngâm vào vị thuốc bào chế.
c) Tôi (tốt) là nung đỏ vị thuốc rồi nhúng ngay vào nước lã hay nước sắc một vị thuốc khác. Làm như vậy nhiều lần. Ví dụ nung tô cam thạch rồi nhúng ngay vào nước hoàng liên.
d) Sắc (tiễn) là cho thuốc vào nước, nấu kỹ và cô đặc. Chất thuốc tan vào nước, lấy nước bỏ bã đi.
e) Cất là đun lấy hơi bốc lên, để ngưng đọng lại thành nước như cất dầu bạc hà, long não, cất rượu.
Trong những phương pháp trên, có khi người ta còn dùng giấm, rượu, nước muối, nước vo gạo, sữa, nước tiểu trẻ con để ngâm hay tẩm, trích nữa. Tất cả những phương pháp đó đều dựa vào lý luận âm dương ngũ hành giới thiệu ở trên, hoặc có khi do kinh nghiệm.
Chúng tôi cho rằng lúc đầu người ta dùng thuốc không có chế biến gì cả, dần dần do tình cờ hay tìm tòi, tìm ra những phương pháp độc đáo nhưng rồi truyền khẩu hay giữ bí mật nhiều quá cho nên đôi khi đượm màu mê tín. Chúng ta cần tích cực nghiên cứu, kiểm tra lại.
-
Làm viên tròn bằng phương pháp lắc thúng
Làm viên tròn bằng phương pháp lắc thúng là mộí phương pháp độc đáo trong bào chế đông y.
Nguyên tắc của phương pháp lắc thúng là dùng nước hay nước thuốc loãng và bột gây một nhân nhỏ gọi là con viên, sau đó cho bột thuốc bao dần vào xung quanh cho tới mức độ yêu cầu.
Phương pháp làm viên tròn bằng lắc thúng thường chỉ áp dụng đối với những bài thuốc không có đường hay mật, hoặc có ít đường mật; trọng lượng bột thuốc từ 500g trở lên.
Một người có trình độ nghiệp vụ vừa phải, trong một ngày có thể viên tới 5-10kg bột thuốc, dụng cụ lại rất đơn giản, cho nên rất thích hợp với các phòng thuốc ở xã, huyện.
a. Dụng cụ cần thiết cho phương pháp lắc thúng
- Thuyền tán hay cối giã. Thuyền tán tốt nhất, có thể dùng máy xay.
- Rây cỡ nhỏ mắt. Có thể dùng rây bột bán tại các chợ, nhân dân vẫn dùng rây bột.
- Sàng đan bằng tre với các cỡ mắt sàng: 1mm, 2mm, 3mm, 5mm.
- Nồi nhôm để nấu hay cô cao, có thể dùng nồi đồng. Loại nồi to, đáy bằng tốt hơn cả.
- Thúng lắc bằng tre cật, tốt nhất bằng dang hay bằng nhôm. Thúng nhôm có ưu điểm làm thuốc không dính vào thành thúng. Nếu thúng bằng tre hay dang, nan thúng nên chẻ mảnh, tránh nhiều mắt, đường kính thúng 0,60 - 0,80m, cao 0,18 - 0,20m; thành thẳng đứng, hơi thuôn ở đáy, đáy bằng. Thúng được buộc bằng 3 sợi dây phân đều ở miệng thúng; treo thúng vừa tầm người ngồi hay đứng, ngang tay cho tiện và đỡ mỏi.
- Khay men hay mâm để đựng viên thuốc.
- Chậu men để đựng bột và cao nước.
- Chổi quét: giống như chiếc bút lông to để rẩy cao nước vào viên thuốc trong quá trình lắc thúng.
- Dàn phơi hay tủ sấy.
b. Nguyên liệu để tàm viên tròn lắc thúng
-
Những vị thuốc nào có thể nấu thành cao lỏng thì nấu để làm chất dính.
-
Vị thuốc nào có thể nấu thành cao khô hay cao mềm thì cho nấu để tăng chất giảm lượng viên.
-
Vị thuốc nào tán thành bột thì cho tán thành bột, rây nhỏ. Chú ý phơi hay sấy khô trước khi tán.
Nếu trong đơn thuốc không có vị nào có thể nấu thành cao lỏng dính được thì dùng bột nếp nấu thành hồ loãng để làm chất dính.
c. Động tác lắc thúng
Thúng treo như chiếc nôi, vừa tầm đứng hay ngồi.
Nếu đứng: chân trái đưa ra phía trước, chân phải làm trụ như đứng xay lúa hay tát nước.
Nếu ngồi: treo thúng ngang tầm, tay phải cầm úp miệng thúng, tay trái ngửa lòng bàn tay nắm lấy miệng thúng. Tay phải đưa thúng vòng tròn như sàng gạo; thúng tre nhẹ, với tư thế ngồi dễ lắc hơn tư thế đứng. Tư thế đứng áp dụng cho thúng nhôm tiện hơn.
Khi đứng, tay phải lòng bàn tay nắm úp miệng thúng; tay trái ngửa lòng bàn tay ra nắm lấy miệng thúng. Hai cánh tay thẳng nâng thúng lên rồi đưa ra cho đúng tầm, rồi lại kéo về phía mình, và ấn thúng xuống. Hai tay điều khiển cho thúng lắc đều thì viên mới tròn đều.
Xí nghiệp dược phẩm Hà Tây có sáng kiến lắp vào miệng thúng một bộ phận nhỏ có ổ bi giúp cho việc lắc thúng được nhẹ nhàng mà viên vẫn tròn.
Hiện nay tại những nơi có điện, động tác lắc thúng có thể thay bằng máy như máy làm viên kẹo bọc đường.
d. Cách làm cụ thể viên tròn bằng phương pháp lắc thúng
Sau khi đã chuẩn bị nguyên liệu, cao thuốc và nước hồ dính thì bắt đầu làm viên tròn. Có ba giai đoạn là; gây con viên, làm viên, và bao viên.
(1) Gây con viên: Cứ 1kg thuốc bột thì dùng khoảng 30g bột, cho vào chậu men sạch; cho từ từ chất dính (cao lỏng hay hồ nếp loãng) trộn đều cho đến khi bột ướt đều (30g bột thì dùng khoảng 60ml cao lỏng hay nước hồ loãng). Cho lên sàng, sàng (mắt sàng 2mm) xát cho bột rơi xuống thành những hạt nhỏ vào thúng lắc. Cầm thúng lắc nhẹ cho hạt thuốc chạy đều trong thúng; lấy chổi lông nhúng vào nước dính (ép chổi lông vào thành chậu cho nước dính chảy bớt đi) dùng chổi quét đều bên thúng (bên không có những hạt thuốc), thành một lớp nước mỏng rồi cầm thúng lắc cho những hạt trượt lên nước và thấm đều vào hạt. 1-2 phút sau, lại quét nước dính một lần nữa. Sau vài phút, dùng thìa múc độ 1g thuốc bột, rắc vào những hạt thuốc để bột phủ trên hạt thành một lớp mỏng, rồi cầm thúng lắc cho bột quyện đều vào hạt. Cách vài phút lại quét nước dính và cho bột thuốc như trên. Độ 30 phút sau, khi con viên đã hơi to, thì dùng sàng (mắt sàng 1mm) để loại những hạt quá nhỏ. Những hạt nhỏ này để riêng ra, dùng làm con viên cho mẻ sau.
(2) Làm viên chính thức: Những hạt to còn lại trên sàng được cho vào thúng lắc, cho thêm nước dính và bột như trên. Cứ làm như vậy, ta thấy hạt to dần lên. Khi những hạt to dần thì mỗi lần quét nước dính hay thêm bột cũng tăng lên, mỗi lần 2-3g bột. Thỉnh thoảng lại đem ra sàng rồi lại tiếp tục lắc. Những hạt lọt qua sàng đem lắc cho đến khi có kích thước bằng những hạt to để riêng thì lại cho chung vào với viên to rồi lại lắc. Cuối cùng khi viên đủ kích thước yêu cầu thì sàng qua rây có mắt 3 - 4mm để viên thuốc có kích thước không chênh lệch nhau nhiều. Lấy viên ra và tiếp tục làm mẻ khác cho tới khi hết bột.
(3) Bao viên: Khi viên thuốc đã làm xong, viên thuốc thường được bao để giữ hương vị và giúp cho bảo quản, chống mốc. Viên cũng đẹp hơn. Chất dùng bao thuốc viên có thể là hoạt thạch, chu sa, thần sa, than mịn hay cũng có thể là những dược liệu được nấu thành cao như cao ngải cứu, cao kim anh hoặc có thể dùng một thứ bột trắng mịn như hoài sơn.
Cứ 1kg thuốc viên thường cần 200g bột thuốc hay cao thuốc để bao viên. Động tác bao viên cũng giống động tác lắc thúng như nói trên.
Viên thuốc sau khi hoàn thành cần phơi hay sấy khô rồi mới bao; sau khi bao xong, lại phải phơi hay sấy lại lần nữa.
Một thí dụ cụ thể làm viên thuốc điều kinh bằng cách lắc thúng
Nguyên liệu và liều lượng để chế 1 kg viên tròn:
- - Hương phụ 600g Trần bì 400g Ích mẫu khô 400g Ngải cứu khô 400g Ô tặc cốt 400g Cách làm: Hương phụ giã trong cối giã gạo cho trầy hết vỏ đen, sảy bỏ vỏ đen, tán và rây lấy bột mịn, được 550g bột.
Trần bì sao vàng, tán nhỏ, được 300g.
Ngải cứu và ích mẫu rửa sạch, phơi khô, thái thành từng mẩu 3-4cm, thêm nước vào cho ngập độ 3cm, đun sôi trong 4 giờ gạn lọc lấy nước nhất, bã thêm nước nấu sôi 3 giờ, gạn lọc lấy nước hai. Hợp cả hai nước, cô còn 600ml. Mỗi ml cao tương ứng với 1g nguyên liệu. Cao này quá đặc, dùng để bao quản. Khi dùng cần pha loãng để lấy độ dính. Để nguyên rất khó viên.
Ô tặc cốt sau khi loại bỏ vỏ cứng, cho vào thúng ngâm và luộc 3 giờ để loại bỏ muối mặn. Vớt ra phơi khô, loại bỏ miếng đen, tán bột, rây mịn, được 300g.
Trộn đều cả ba thứ bột hương phụ, ô tặc cốt và trần bì với nhau. Cuối cùng rây và được 1,1 kg bột kép.
Gây con viên: Vì cao ích mẫu, ngải cứu quá dính, cho nên phải pha loãng với tỉ lệ 150ml cao lỏng với 150ml nước đun sôi để nguội.
Cân 25g bột kép (tỷ lệ 2% so với tổng số bột kép) cho vào chậu men, cho từ từ cao đã pha loãng như trên, vừa cho vừa trộn đều cho đến khi bột ướt (dùng chừng 50ml cao đã pha loãng). Xát qua sàng 2mm cho những hạt thuốc rơi xuống thúng. Lắc thúng. Sau vài phút, dùng chổi lông thấm chất dính quét nhẹ một lớp bên trên thúng (bên không có thuốc), lắc thúng. Viên thuốc được thấm đều. Làm như trên một lần nữa, rồi cho 1g bột rắc nhẹ lên hạt thuốc. Lắc cho bột quyện đều vào viên. Cứ làm như vậy chừng một giờ thì có những hạt to bằng hạt đậu xanh, dùng sàng để loại những hạt bé quá (lọt qua mắt sàng 1mm). Những viên bé quá lọt qua sàng sẽ dùng làm con viên cho mẻ sau. Dùng sàng 2mm để loại cả những viên quá to.
Làm viên: Những hạt trung bình được cho vào thúng và tiếp tục lắc, thỉnh thoảng thêm chất dính và bột kép với số lượng nhiều hơn lúc gây con. Khi cao pha loãng đã dùng hết, lúc này viên thuốc đã lớn, nên tiếp tục dùng loại cao 1ml tương đương với 1g nguyên liệu để làm chất dính. Trong quá trình làm viên, nếu thấy viên to nhỏ không đều nhau thì cần sàng để loại bỏ những viên to quá hay nhỏ quá.
Bao viên: Dùng cao ngải cứu và ích mẫu để bao viên. Cao này cần cô cho đặc hơn; 1 ml cao tương ứng 2g nguyên liệu.
Cho thuốc viên đã phơi khô vào thúng lắc, dùng chổi quét cao vào thúng. Lắc cho viên thấm đều. Làm nhiều lần cho đến khi viên thuốc được bao đều bằng một lớp cao là được. Phơi hay sấy viên cho khô. Làm lại lần thứ hai cho đến khi các viên bóng đồng màu là được. Cuối cùng phơi hay sấy thật khô.
IV. CƠ SỞ ĐỂ XÉT TÁC DỤNG CỦA THUỐC THEO KHOA HỌC HIỆN ĐẠI (TÂY Y)
Khi xét tác dụng của một vị thuốc, khoa học hiện đại căn cứ chủ yếu vào thành phần hóa học của vị thuốc, nghĩa là tìm xem trong vị thuốc có những chất gì, tác dụng của những chất đó trên cơ thể súc vật và người ra sao.
Hiện nay, người ta biết rằng trong các vị thuốc có những chất có tác dụng chữa bệnh đặc biệt của vị thuốc, gọi là hoạt chất và những chất chung chung nhiều cây và vị thuốc khác cũng có, ta gọi những chất đó là những chất độn. Những chất độn không đóng vai trò gì trong việc chữa bệnh; tuy nhiên có một số chất độn chỉ gặp ở một số vị thuốc nhất định, người ta có thể dựa vào việc tìm chất độn đó để kết luận có phải là vị thuốc đó hay không.
Các chất có trong vị thuốc (còn gọi là thành phần hóa học) có thể chia làm 2 nhóm chính:
Nhóm những chất vô cơ và nhóm những chất hữu cơ.
Cả hai nhóm đều hay gặp trong các vị thuốc động vật hay thực vật. Những thuốc nguồn gốc khoáng vật (lô cam thạch, chu sa, hoạt thạch v.v…) chủ yếu chỉ chứa các chất thuộc nhóm vô cơ.
Những chất vô cơ tương đối ít và tác dụng tương đối ít phức tạp; trái lại các chất hữu cơ rất nhiều loại, mà tác dụng cũng rất phức tạp. Chúng ta cũng lại biết rằng khoa học hiện nay chưa phân tích được hết các chất có trong cây hay động vật, do đó nhiều khi cũng chưa giải thích được hết tác dụng của mọi thứ thuốc ông cha ta vẫn dùng.
Việc nghiên cứu và xét tác dụng chữa bệnh của một vị thuốc không dễ dàng, vì trong một vị thuốc nhiều khi chứa nhiều hoạt chất có khi có tác dụng phối hợp, nhưng nhiều khi lại có tác dụng ngược hẳn nhau. Thay đổi liều lượng cũng có thể đưa đến những kết quả chữa bệnh khác nhau. Trong đông y lại thường dùng nhiều vị thuốc phối hợp với nhau cho nên không phải một chất tác dụng mà là nhiều chất ở nhiều vị thuốc ảnh hưởng và tác dụng lẫn nhau làm cho việc nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị lại càng khó.
Việc nghiên cứu tác dụng của thuốc trên súc vật thí nghiệm hiện nay (tác dụng dược lý) mặc dầu có rất nhiều tiến bộ, nhưng cũng chưa được hoàn bị. Khi kết quả nghiên cứu dược lý phù hợp với những kinh nghiệm nhân dân, ta có thể yên tâm sử dụng những thuốc đó. Nhưng khi thí nghiệm một vị thuốc không thấy kết quả, ta chưa có thể kết luận thuốc đó không có tác dụng trên lâm sàng, vì cơ thể con thỏ, con chó, con chuột nhiều khi không hoàn toàn giống cơ thể con người. Ngay khi người ta tạo ra bệnh trên súc vật để thí nghiệm bệnh đó cũng không phải là một bệnh diễn ra đúng như trong con người. Cho nên chúng ta cần thấy trước giá trị của những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cần được xác nhận trên lâm sàng, mà những kinh nghiệm chữa bệnh của ông cha ta thì có từ nghìn năm về trước, đã có những kết quả thực tiễn. Ta phải tìm mọi cách để phát hiện ra cơ sở khoa học hiện đại của những kinh nghiệm đó.
Như vậy ta thấy trình bày cơ sở để xét tác dụng của thuốc theo khoa học hiện đại không đơn giản được mà đòi hỏi có những tập sách riêng. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn trình bày sơ lược một số kiến thức chung cần thiết để hiểu một số vấn đề trình bày trong tập sách này. Muốn hiểu sâu hơn nữa cần phải có những kiến thức cơ sở về hóa học và dược lý như đã trình bày trong lời nói đầu.
A. Nhóm những chất vô cơ
Trong nhóm này, ta có thể kể các gốc axit như axit sunfuric (trong mang tiêu, phác tiêu, đảm phàn, minh phàn), axit clohyđric (trong muối ăn, thuốc chế với muối ăn), axit photphoric (những thuốc chế từ xương, thuốc nguồn gốc động vật), axit silixic (hoạt thạch) v.v… Cạnh những gốc axit ta còn có những kim loại và á kim thường gặp trong các vị thuốc như canxi (trong thạch cao, trong ô tặc cốt, mẫu lệ), sắt (trong hác phàn), đồng (trong đảm phàn) thủy ngân, selen (trong chu sa, thần sa), magiê (trong hoạt thạch), kali (trong râu ngô, mã đề), iôt (trong hải tảo, côn bố, ké đầu ngựa). Nói chung những chất này thường nằm trong thành phần tro giới thiệu trong vị thuốc.
Những chất trong nhóm vô cơ có thể tác dụng về hai phương diện:
- Tác dụng toàn thân nhằm xúc tiến hiện tượng chuyển hóa cơ bản và một số cơ năng nào đó của cơ thể như canxi, sắt, iôt, asen cần thiết để bổ máu, làm cho cơ thể khỏe mạnh v.v…
- Tác dụng cục bộ như những vị ô tặc cốt, mẫu lệ, lộc giác sương do thành phần canxi rất cao nên có tác dụng chữa dạ dày đau do thừa nước chua, giúp cho máu chóng đông, phèn chua (minh phàn), đảm phàn (đồng sunfat) có tác dụng sát trùng, thu liễm v.v… kali làm thông tiểu v,v…
Gần đây người ta đã xác định vai trò của một số chất vô cơ như germani trong nhân sâm, selen có trong hầu hết các cây với hàm lượng dưới 1mg selen trong 1kg cây khô, rất ít cây chứa tới 10mg selen trong 1kg cây khô. Có 3 cây có hàm hrợng selen trên 1g/1kg cây khô (mẫu cao nhất tới 15g) được thế giới nói đến là Astragalus racemosus (một loại hoàng kỳ Mỹ, Iran), Neptunia amplexicaulis (châu Úc) và Morinda reticulata (Úc).
Ở đây chúng tôi giới thiệu một số kiến thức về selen và những vị thuốc chứa selen trong điều trị.
Từ năm 1930 khi công nghiệp selen phát triển, người ta rất sợ độc tính của selen. Nhưng từ năm 1968, sau hội nghị quốc tế về tác dụng của selen, bên cạnh những tác hại của selen, người ta đã phát hiện nhiều tác dụng tích cực của selen: không những selen là một nguyên tố cần thiết cho cơ thể mà còn có tác dụng chữa nhiều bệnh.
Về sinh hóa học selen được coi như nhóm hoạt động của nhiều men. Selen có tác dụng bảo vệ tế bào, bảo vệ cấu tử của màng tế bào chống lại hiện tượng ôxy hóa, ngăn cản sự tạo thành lipopeoxyt nên có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa; selen tham gia sự vận chuyển ion qua màng tế bào, tham gia điều khiển sự tổng hợp collagen, tổng hợp protein của hồng cầu và của gan, tổng hợp ADN và ARN; điều khiển sự tổng hợp các globulin miễn dịch và ubiquinon là một gốc tự do cần thiết có tác dụng đệm oxy hóa khử trong tế bào, do đó có tác dụng trong hô hấp tế bào.
Trong dinh dưỡng, thiếu selen cơ thể không thể tổng hợp được vitamin C, sau đó teo cơ, hệ tim mạch bị tổn hại, hệ thống miễn dịch của cơ thể bị giảm sút. Đó là lý do nạn chết yểu cao ở trẻ em miền Nam nước Mỹ (Andrews 1968, hội đồng nghiên cứu Washington 1971, Mahan 1973) . Thiếu selen còn sinh bệnh đục thủy tinh thể (Frost 1972) và đục thủy tinh có thể truyền qua nhiều thế hệ (Sprinker, New Beme, Brovvn, Brurk 1971, 1972). Thiếu selen tế bào gan mất khả năng hô hấp (Schwarz 1973).
Đối với nhu cầu hàng ngày của cơ thể về selen các nhà nghiên cứu hiện chưa nhất trí: Ermacốv (1974) cho là 0,4mg, Frost lại cho rằng cần tới 1 - 2mg. Nếu theo Frost thì hiện nay nói chung khẩu phần của nhân dân thế giới là thiếu selen; như ở Mỹ khẩu phần trung bình là 0,4mg, Nhật 0,7mg (Schwarz 1975).
Về chữa bệnh người ta dùng selen chữa cho súc vật từ năm 1960. Có những nước đã đạt những thành tựu rất lớn, đặc biệt ở New Zealand. Việc dùng selen chữa bệnh cho người được bắt đầu từ năm 1973 ở Mêhicô, sau đó vài năm ở Mỹ, Tân Tây Lan. Điều đáng chú ý là trong y học cổ truyền Việt nam ông cha ta từ lâu đời đã biết sử dụng những vị thuốc chứa selen như thần sa, chu sa, hoàng kỳ, xấu hổ, mặt quỉ, nhàu v.v…
Năm 1973, Hội dược học Mỹ đã tiến hành nghiên cứu độc tính của selen trên khỉ Rhesus thấy với liều 0,2 mg/kg trong 58 tuần lễ không có triệu chứng độc, năm 1974 thử độc tính trên một số người tình nguyện trong 18 tuần liền với liều lượng thấp hơn 5 lần đối với khỉ Rhesus cũng không có triệu chứng độc.
Cùng năm 1973, ở Mêhicô người ta dùng selen lần đầu tiên để chữa 50 trường hợp bệnh nhân huyết áp cao thu được kết quả mỹ mãn (Ramirez - Ann. rev. Pharmacolo. 1975, 15).
Hiện nay một số chỉ định chính của selen trong chữa bệnh là:
Xơ mỡ động mạch, chủ yếu động mạch vành: năm 1973 đây là một đề tài được ghi trong chương trình nghiên cứu quốc tế của tổ chức y tế thế giới (OMS).
Thấp khớp: có tác giả cho rằng tác dụng rõ rệt của selen trong thấp khớp là do selen ổn định màng lysosome của tế bào (Frost, 1972), có tác giả cho rằng selen làm tăng nhóm -SH do phá dây nối disunfua.
Chống độc: Rất nhiều tài liệu công bố về tác dụng giải độc của selen đối với ngộ độc asen, thủy ngân, catmi, đồng, bạc v.v… Frost cho rằng trong những trường hợp trên, selen còn tốt hơn BAL và penixilamin (1975).
Kích thích miễn dịch; Gauther và cộng sự thấy các vacxin được tăng hiệu lực khi dùng kèm với selen. Spalholz thấy selen làm xuất hiện một lượng lớn kháng thể khi mẫn cảm cho thỏ với hồng cầu cừu (1973). Nhóm nghiên cứu Trường tổng hợp Colorado chứng minh vai trò của selen đối với hiện tượng thực khuẩn và đối với phản ứng miễn dịch tế bào (1972).
Ung thư: Các nhà khoa học Liên xô và Mỹ đều thống nhất kết luận rằng trong khẩu phần thiếu selen thì tỷ lệ ung thư sẽ rất cao (Schrauzer, 1974).
Có những thí nghiệm chữa ung thư vú ở chuột bằng selen, và những thí nghiệm chặn được ung thư do 3- metylcholantren. Năm 1974 ở Pháp đã chế một hợp chất của selen từ gan cá nhám có công hiệu cao đối với ung thư.
Nha chu viêm: các hợp chất selen có tác dụng rõ rệt đối với nha chu viêm.
Nhãn khoa: selen làm sáng mắt do làm tăng dòng điện từ võng mạc lên não (Apdulaev, 1974).
Kẽm: Trước đây người ta chỉ dùng kẽm để chữa đau mắt, những vết lở, loét, nhưng gần đây người ta đã phát hiện thấy kẽm có tác dụng giúp sự phát triển cơ thể trẻ em. Nghiên cứu so sánh hai nhóm trẻ sơ sinh nuôi bằng sữa có pha kẽm trong 12 tháng thì thấy nhóm được ăn nhiều kẽm hơn đã phát triển nhanh hơn và trong số đó các em trai thấy tác dụng tốt của kẽm nhiều hơn là các em gái. Phải chăng vì chứa nhiều kẽm mà thịt cóc có tác dụng chữa suy dinh dưỡng của trẻ em theo kinh nghiệm cổ truyền của ông cha ta? Trước đây ta thường nghĩ chỉ do các axit amin.
Qua thí nghiệm trên bản thân, một tác giả Hy lạp còn thấy dùng thêm thuốc kẽm, tóc của mình mọc khỏe hơn và bóng hơn, đỡ bạc, đỡ rụng, da đỡ nhờn, và gầu trên đầu biến hết.
Một số người còn thấy khi dùng thuốc có kẽm thì bệnh trứng cá giảm dần rõ rệt.
Dùng kẽm sunfat qua đường uống một tác giả còn nhận thấy các vết thương dai dẳng, các vết loét phình tĩnh mạch sẽ chóng thành sẹo.
Một kiểu lùn đặc biệt ở Iran và Ai cập liên quan đến sự thiếu kẽm do thức ăn thiếu đạm. Một số men nhất là các men tham gia tổng hợp chất đạm hoạt động phụ thuộc vào sự có mặt của kẽm. Thiếu kẽm, sự phát triển và sinh trưởng của cây và động vật cũng như của người bị ảnh hưởng. Nhiều thanh niên lùn ở Iran và Ai Cập đã chữa khỏi bệnh lùn một cách kỳ lạ nhờ uống mỗi ngày 27mg kẽm.
Người ta đã tính rằng nhu cầu con người mỗi ngày từ 15 đến 20mg kẽm.
Nói chung kẽm là một nguyên tố tương đối phổ biến cho nên thường ít xảy ra hiện tượng thiếu kẽm, nhưng cũng có những trường hợp thiếu kẽm trong thức ăn đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Silicium - là một chất vô cơ rất phổ biến trên trái đất, chỉ đứng sau cacbon. đã từ lâu người ta không chú ý đến vai trò chữa bệnh của nó, nhưng gần đây, trước những kết quả thực nghiêm, người ta đã tự hỏi về vai trò thực tế của silicium đối với bệnh tật. Trước hết người ta phát hiện silicium là một thành phần quan trọng trong tổ chức tissu conjonctif bao gồm sụn, gân (articulation, carti- lage) của thành phần các thành mạch máu đỏ. Silicium giúp cho các mạch máu bền và dễ co dãn hơn. Đặc biệt người ta chú ý đến vai trò của silicium trong bệnh phong tê thấp (arthrose), và trong những bệnh về mạch máu (artherosclerose).
Trong phong tê thấp, silicium giúp xương giữ lại chất canxi cải thiện mạng chất keo, giúp các tổ chức mềm dẻo, Trong những trường hợp mất chất vô cơ ở xương, thì silicium mất trước canxi. Silicium giúp các tổ chức dễ co dãn. Khi lượng silicium giảm, thì lượng canxi tăng trọng các tổ chức conjonctif, và sự co dãn của những tổ chức này bị giảm. Ngoài ra người ta thấy silicium làm mau lành các nơi xương gãy, có lẽ do vai trò giúp giữ lại được canxi. Vai trò của silicium trong các bệnh thành mạch (atherosclérose) được mọi người chú ý cách đây khoảng 25 năm: dân Phần Lan ở phía đông chết do đau thắt cơ tim (angine de poitrine-iníarctus) do dùng nước chứa rất ít silicium, gấp đôi số dân số Phần Lan (tại đây lượng silicium trong nước bình thường), chết về bệnh ấy.
Từ những nhận xét ấy, người ta nghĩ tới vai trò của silicium để đề phòng những bệnh về mạch máu vì silicium giữ thành mạch dễ co dãn, sự co dãn rất cần thiết để đối phó với sự thay đổi huyết áp. Silicium có trong nước, rau, quả (vỏ quả), đặc biệt nhiều trong vị thuốc thiên trúc hoàng.
B. Nhóm những chất hữu cơ
Nhóm này rất phức tạp, người ta lại chia làm hai nhóm nhỏ: nhóm những chất độn có ở rất nhiều cây và động vật khác như nước, muối vô cơ, chất hydrat cacbon (đường, tinh bột), chất béo (dầu mỡ, sáp) chất prôtit, các men, lục diệp tố và các sắc tố v.v… Những chất độn này một vài khi cũng tham gia làm tăng tác dụng của vị thuốc hay thêm tính chất bồi dưỡng của vị thuốc, nhưng nói chung không có giá trị đặc biệt.
Cạnh những chất độn có những chất đặc biệt, có tác dụng chữa bệnh, ta gọi là hoạt chất. Hoạt chất hữu cơ thuộc nhiều loại; ở đây chỉ kể một số chính và một số tác dụng chủ yếu của các chất đó. Trong thực tế, cần chú ý là tác dụng không đơn giản.
Những hoạt chất thường gặp trong các vị thuốc động vật và thực vật là:
-
Xơ thực vật: Người ta xác định xơ thực vật bao gồm những chất thiên nhiên do thành các tế bào thực vật tạo ra hầu hết là các chuỗi dài các chất cao phân tử khác nhau như cellulose, hemi-cellulose, pectin, mucilage (chất nhầy), lignin, gomme (gôm)… Chất gồm như nhựa mận, nhựa đào. Chất nhầy như sâm bố chính, bạch cập; pectin như cùi bưởi, ổi, khế, là những dẫn xuất của axit uronic.
Tính chất chung của xơ thực vật là thường không được cơ thể hấp thụ, và có thể hợp với nước tạo thành chất đông (gel) lỏng, sánh hoặc đặc tùy theo từng loại, tính chất hiện nay được biết khá rõ.
Trước đây người ta coi chất xơ thực vật không giữ vai trò gì quan trọng đối với con người. Nhưng gần đây, xuất phát từ nhận xét rằng từ thời cổ xưa dân châu Âu chỉ sống bằng những sản phẩm nông nghiệp. Mỗi ngày những rau quả đã cung cấp cho họ từ 60 - 100g xơ thực vật. Nhưng khoảng hai thế kỷ trở lại đây nền công nghiệp thực phẩm đã hoàn toàn thay đổi cách thức chế biến thức ăn, và mỗi ngày người dân chỉ còn ăn vào không quá 20g xơ thực vật. Và nếu so sánh thực phẩm của những người dân ở các nước đang phát triển (trong đó ngũ cốc và rau quả chiếm chủ yếu) thì người ta nhân thấy những bệnh thường gặp ở phương “tây” còn được mệnh danh là “bệnh của những nước văn minh” như táo bón, đái đường, béo phì, cholesterol cao, xơ vữa động mạch, viêm ruột kết (colite, ung thư ruột kết…) rất hiếm thấy ở những nước chậm phát triển mà thức ăn rất giàu xơ thực vật.
Và người ta thấy rằng xơ thực vật có một số tác dụng sau:
Xơ thực vật chống táo bón. Xơ thực vật ăn vào giữ nước làm tăng khối lượng phân trong ruột, do đó kích thích sự co bóp của ruột và thải phân ra dễ dàng. Tính nhuần hoạt, làm dịu niêm mạc còn dùng chữa ho, cầm máu.
Xơ thực vật và béo phì. Những chất đông do xơ thực vật tạo thành giữ những thức ăn trong các mắt lưới và giúp cho những thức ăn đó được tiêu thụ từ từ và bổ sung từ từ vào máu, bảo đảm sự hấp thụ có chừng mực. Do đó dẫn đến hai kết quả:
- Hàm lượng đường trong máu khỏi tăng lên đột ngột. Chất insulin vì vậy khỏi bị tiết ra một cách đột xuất với lượng lớn, và vì vậy, không làm cho lượng đường được tích trữ dưới dạng mỡ trong tế bào mỡ (hiện tượng chỉ xảy ra khi lượng đường được chuyển tới quá lớn).
- Hàm lượng cholesterol trong máu hạ xuống. Vì xơ thực vật giữ những muối mật lại, và không cho số muối mật này trở lui vào máu. Cơ thể do đó phải tiếp tục sản xuất ra muối mật để bù lại số muối mật đã tiêu thụ hàng ngày. Mà nguyên liệu ban đầu để chế muối mật là cholesterol. Do đó xơ thực vật gián tiếp làm hạ cholesterol trong máu. Xơ thực vật trở thành một thứ thuốc cần thiết hàng ngày.
-
Axit hữu cơ rất phổ biến trong các bộ phận của cây như quả (chanh, cam, quít, bưởi, me, mơ, sơn trà), trong lá (như lá chua me, lá sấu, lá bông). Những axit hữu cơ thường gặp như axit focmic, axit xitric, axit malic, axit tactric, axit axetic, axit oxalic v.v… Những axit này có khi có thể tự do làm cho vị thuốc có vị chua nhưng cũng có khi ở dưới dạng muối như canxi oxalat (có rất nhiều ở cây). Một số axit đặc biệt như axit xinamic (có trong quế), axit benzoic trong an tức hương (cánh kiến trắng), axit aconitic trong phụ tử, ô đầu.
Tác dụng của những axit này không giống nhau, thường những loại axit benzoic có tác dụng sát trùng, chữa ho, axit xitric, tactric, có tác dụng giải nhiệt (mát) hay nhuận tràng (me), giúp sự tiêu hóa như sơn tra.
-
Dầu béo. Những vị thuốc có chất dầu béo như hạnh nhân, đào nhân, thầu dầu, ba đậu, đại phong tử, máu chó, vừng v.v… Những vị thuốc có chất dầu béo, khi ta ép nó vào tờ giấy thì thấy trên tờ giấy có một vết trong mờ để lâu hay hơ nóng cũng không mất đi (khác với tinh dầu).
Tác dụng của chất béo nhiều mặt: khi thì là một chất bồi dưỡng như dầu lạc, dầu vừng, khi thì là thuốc tẩy như thầu dầu, dầu ba đậu, nhưng cũng có khi là thuốc trị bệnh ngoài da như dầu máu chó, đại phong tử, hay dầu vừng dùng chế thuốc cao dán nhọt.
-
Tinh dầu. Tinh dầu là những chất làm cho vị thuốc có mùi thơm hay hắc. Những vị thuốc có tinh dầu, khi ép giữa hai tờ giấy cũng để lại một vết trong mờ, nhưng để lâu hoặc hơ nóng thì bay mất (phân biệt với chất béo). Tinh dầu phần lớn là những thuộc chất của tecpen, nhưng cũng có khi không phải như tinh dầu trong xạ hương.
Những thuốc tinh dầu thường dùng như hồi, quế, xạ hương, hoắc hương, hương nhu, bạc hà, sa nhân, thảo đậu khấu, đương quy v.v…
Thuốc có tinh dầu thường có tác dụng sát trùng, trị bệnh đường hô hấp (khuynh điệp, quế) hay giúp sự tiêu hóa, làm cho ăn ngon, chóng tiêu, chữa đau bụng, nôn mửa, hoặc có khi dùng chữa cảm sốt, nhức đầu.
Những thuốc có tinh dầu thường dùng bột, hoặc nếu sắc thì không nên sắc lâu, tinh dầu sẽ bay đi mất. Hay nếu sắc chung với những vị thuốc khác thì cho vào sau cùng, khi sắp được thuốc mới cho vào. Đôi khi những vị thuốc có tinh dầu dùng để xông giải cảm, như đại bi, lá bưởi, long não người ta đun nồi nước sôi cho các thứ lá đó vào rồi chùm chăn lên để hứng lấy những hơi tinh dầu bốc lên.
-
Chất nhựa (résine) như nhựa thông, a ngùy, an tức hương, một dược là những chất được tạo thành do sự ôxy hóa các tinh dầu. Có thứ nhựa còn lẫn cả tinh dầu chưa bị ôxy hóa, người ta gọi là nhựa dầu (oleoresin hay bôm). Có những thứ nhựa chứa axit thơm như an tức hương, (có axit benzoic, xinamic). Những thuốc có chất nhựa không tan trong nước, cho nên ta không dùng dưới dạng thuốc sắc mà dùng dưới dạng rượu thuốc (ngâm trong rượu). Những vị thuốc có chất nhựa thường có tác dụng sát trùng đường hô hấp, đường tiểu tiện hay chữa giun.
Có một loại nhựa đặc biệt gọi là nhựa tẩy có trong vị khiên ngưu, khoai lang, tuy hình thức và một số tính chất giống nhựa, nhưng lại có cấu tạo những chất glucozit nói sau đây.
-
Những chất glucozit hay heterozit rất hay gặp trong các vị thuốc. Nhưng bản thân glucozit là những chất không đơn thuần. Khi đun các chất glucoxit với nước axit loãng hay kiềm loãng, thường glucozit tách ra làm hai phần, phần chất đường (glucoza, ramnoza v.v…) và một phần không phải là đường (gọi là genin). Tùy theo phần không đường này và tác dụng của vị thuốc có, glucozit lại chia ra làm nhiều chất khác nhau nữa. Ta có thể kể một số glucozit chính sau đây:
(a) Glucozit chữa tim có trong vị trúc đào, thông thiên, hạt đay, một loại vạn niên thanh. Những vị thuốc có chứa glucozit tim có vị rất đắng, thường rất độc. Trong nhựa cóc có một chất gần giống glucozit tim cho nên cũng có tác dụng trên tim.
(b) Glucozit đắng là những chất có vị rất đắng mà không phải là ancaloit. Ta thường thấy chất đắng trong bồ công anh, trong long đởm thảo, thạch xương bồ, trong vỏ cam, vỏ quít.
Những vị thuốc có chất đắng thường làm cho ăn ngon cơm, chóng tiêu, bổ dạ dày.
(c) Saponin hay saponozit là những glucozit có tính chất gây bọt, phá huyết. Những vị thuốc có chất saponin khi tán nhỏ, lắc với một ít nước thì sẽ gây rất nhiều bọt như bọt xà phòng trong ống thí nghiêm. Bọt này rất lâu mới tan. Tuy nhiên cũng cần chú ý là những chất như lòng trắng trứng cũng gây bọt mà không phải là saponin.
Những vị thuốc có saponin rất nhiều như bồ kết (tạo giác), viễn chí, cát cánh, cam thảo, tri mẫu v.v…
Thuốc có chứa chất saponin thường là những thuốc chữa ho, long đờm, thông tiểu. Nhưng nếu tiêm những thuốc có saponin thì có thể làm chết người do huyết bị phá vỡ.
(d) Antragiucozit là những chất glucozit có tính chất kích thích sự co bóp của ruột. Khi dùng liều nhỏ thì nó làm cho ăn ngon cơm, tiêu hóa dễ dàng; liều vừa phải thì nhuận tràng, liều cao hơn nữa thì gây tẩy mạnh. Khi dùng ngoài da, thì những chất này có tác dụng sát trùng, thường dùng chữa hắc lào, chống một sô bệnh nấm ngoài da. Những vị thuốc có antraglucozit thường gặp như đại hoàng, phan tả diệp, lô hội, chút chít, muồng trâu, thảo quyết minh v.v…
(e) Chất tanin (chất chát) cũng là một loại glucozit có vị chát và chua. Nhưng tác dụng của nó thì ngược lại với antraglucozit. Uống những thuốc có tanin thì thường gây táo bón, dùng chữa những trường hợp đau bụng đi ỉa lỏng. Những thuốc có tanin hay gặp như ngũ bội tử, búp ổi, búp sim, củ nâu, hạt vải v.v… Ngoài công dụng cầm ỉa lỏng, tanin còn có tác dụng cầm máu và bổ. Trong hạt sen, lá sen, kim anh, lá chè đều có tanin.
Những vị thuốc có tanin khi dùng dao sắt hay nấu sắc bằng nồi sắt, nồi gang thì sẽ có màu đen. Cho nên một số vị thuốc có chất tanin thường được ông cha ta dặn là không được dùng dao sắt mà thái thuốc. Còn việc sắc thuốc thì nhất thiết phải dùng ấm đất rồi. Nếu không có ấm đất thì dùng nồi nhôm, nồi đồng, không thể dùng nồi sắt được.
(g) Flayon (flayonozit) và antoxyan (anthoxyanozit) là những chất glucozit có màu sắc. Flayon có màu vàng, antoxyan có màu tím (nếu môi trường trung tính) hay đỏ (môi trường axit) hoặc xanh (nếu môi trường kiềm).
Những chất này có liên quan chặt chẽ với chất tanin. Ta thường thấy chất Aayon trong hoa hòe, trong vỏ cam, bồ hoàng, hoàng cầm, chi tử. Một chất flayon rất quý gọi là rutin hay rutozit có trong hoa hòe có tác dụng giảm huyết áp, giúp cho cơ thể chống lại những trường hợp đứt mạch máu nhỏ khi huyết áp tăng cao.
Antoxyan có trong vỏ hạt đậu đen, trong nhiều loại hoa như hoa dâm bụt, hoa phù dung. Vai trò của antoxyan hiện nay chưa được xác định rõ rệt về mât điều trị.
-
Ancaloit đóng một vai trò rất quan trọng trong điều trị. Nó còn đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp vì có thể dùng làm thuốc trừ sâu.
Ancaloit là những chất hữu cơ, có tính chất kiềm tìm thấy trong thực vật. Một số ít cũng thấy trong động vật. Ancaloit thường có vị rất đắng và có một số tính chất chung làm cho chúng ta có thể phát hiện nó trong cây một cách tương đối dễ đàng.
Ancaloit cũng thường có tác dụng rất mạnh trên cơ thể và thường dùng với liều rất nhỏ; nếu dùng liều quá cao có thể bị ngộ độc.
Cũng như các chất khác thường thấy trong cây và động vật, tỷ lệ ancaloit thay đổi tùy theo thời kỳ thu hái, cách chế biến, do đó có tác dụng thay đổi. Vậy cần chú ý thu hái chế biến cho đúng phép.
Những vị thuốc có chứa ancaloit rất nhiều; có thể kể phụ tử, ô đầu, cà độc dược, ma hoàng, ớt, mã tiền, hoàng nàn, thuốc phiện v.v…
-
Vitamin hay sinh tố là những chất tác dụng trên cơ thể với liều rất nhỏ, nhưng thiếu nó thì phát sinh nhiều bệnh phức tạp. Tùy theo thứ tự tìm thấy trước sau, người ta phân chia vitamin A, B, C, D, E v.v…, nhưng sau trong mỗi thứ vitamin người ta nhận thấy nhiều thứ khác cho nên phải thêm con số vào các chữ cái ví dụ B1, B2 B12, C1, D1, D2, D3, v.v… hoặc có khi người ta dùng tác dụng chữa bệnh chủ yếu của vitamin để đặt tên ví dụ vitamin antibéribéric (Chữa phù = vitamin B1), vitamin antiscobutic (vitamin C). Hiện nay người ta đã tổng hợp được nhiều thứ vitamin, khỏi phụ thuộc nhiều thứ vào thiên nhiên.
Mặc dầu vitamin cần thiết cho cơ thể nhưng dùng nhiều quá cũng lại có thể phát sinh ra bệnh thừa vitamin.
-
Các chất nội tiết tố (hocmon) thường gặp trong các vị thuốc nguồn gốc động vật như từ hà sa (nhau thai nhi), kê nội kim (màng mề gà) lộc nhung, hải cẩu thận v.v…
Cơ thể cũng chỉ cần những liều rất nhỏ của nội tiết tố. Dùng quá liều cũng sẽ gây tai biến rối loạn.
-
Chất kháng sinh, gần đây người ta phát hiện trong cây có chất kháng sinh.
Những chất kháng sinh có thể là những chất đã biết như tinh dầu, ancaloit, nhưng có thể có câu tạo khác.
Trên đây mới chỉ kể sơ lược một số hoạt chất thường gặp. Hiện nay khoa học còn đang cố gắng phát hiện ra những chất mới khác trong cây và động vật.
V. KÊ ĐƠN THUỐC ĐÔNG Y
Sau khi chẩn bệnh, căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh, thầy thuốc thường kê đơn thuốc, dặn dò cách sử dụng, cách kiêng khem khi uống thuốc.
Cách kê đơn dùng thuốc căn cứ vào tình hình cụ thể của bệnh, được đông y gọi là biện chứng luận trị nghĩa là căn cứ vào chứng trạng của bệnh nhân mà biện luận cách trị liệu. Biện chứng luận trị khác với lề lối làm việc của những người chỉ biết tác dụng của bài vị thuốc, vị thuốc rồi dùng chung cho tất cả mọi người. Coi như vậy thì luận chứng biện trị không phải là một biện pháp chữa bệnh độc đáo gì của đông y, chỉ có cách nói khác nhau. Người thầy thuốc tây y biết chú ý tới từng trường hợp cụ thể mà thay đổi thuốc cho thích hợp thì cũng đã làm công việc biện chứng luận trị. Ta không nên thần bí hóa một việc đơn giản.
Nội dung đơn thuốc có thể là những bài thuốc gia truyền kinh nghiệm, cũng có thể là những bài thuốc sẵn có như bài lục vị, bài tứ quân, tứ vật v.v… Có khi gia giảm thêm vị này, bớt vị khác (Thường gọi là gia: thêm; giảm: bớt), có khi người ta lại dựa vào toa thuốc căn bản theo kinh nghiệm của quân dân y Nam Bộ kháng chiến, mà thêm bớt cho thích hợp với từng bệnh cụ thể, mặt khác người thầy thuốc cũng có thể chỉ dựa hoàn toàn vào vào các triệu chứng tật bệnh chẩn đoán được mà kê một bài thuốc theo sáng kiến hay kinh nghiệm của mình.
Trong giai đoạn hiện nay, nhất là đối với thầy thuốc tây y, muốn dùng thuốc đông y, ta nên áp dụng rộng rãi việc kê những đơn thuốc chỉ căn cứ vào những triệu chứng hay căn nguyên bệnh mà mình đã chẩn đoán được bằng phương pháp tây y rồi dựa vào tính vị công năng của từng vị thuốc đông y mà thay đổi cho thích hợp. Có làm được như vậy, chúng ta mới chủ động lựa chọn những vị thuốc có sẵn trong nước tránh những vị hiện nay ta còn phải nhập, đắt tiền hoặc không có sẵn ở địa phương mình. Kinh nghiệm kháng chiến Nam Bộ sử dụng chủ yếu thuốc nam, kinh nghiệm của các thầy thuốc nam ở miền Bắc, trước Cách mạng, trong kháng chiến và từ hòa bình lập lại cho ta biết rằng chỉ bằng thuốc nam ta có thể giải quyết một số lớn bệnh thông thường, có khi cả một số bệnh hiểm nghèo đã dùng thuốc tây, thuốc bắc không khỏi mà rồi cuối cùng chỉ một hay vài vị thuốc nam vừa đơn giản, rẻ tiền, thích hợp với hoàn cảnh của chúng ta, là đã có hiệu nghiệm.
Để việc kê đơn thuốc đông y được tốt, chúng ta cần tránh một số nhận định mà chúng tôi cho là chưa hoàn toàn đúng:
-
Đơn thuốc đông y phải có nhiều vị?
Những người này thường thấy trong đơn thuốc đông y có tới 20-30 vị, có khi tới 40-50 vị hay hơn nữa. Điều nhận xét đó có phần đúng. Nói chung, một số lương y hay kê những đơn thuốc nhiều vị, nhưng ta không nên vì vậy mà quan niệm rằng đơn thuốc đông y nhất thiết phải có nhiều vị.
Nhìn qua lịch sử đông y và dựa vào một số bài thuốc kinh nghiệm đã nổi tiếng, ta thấy có rất nhiều bài có tác dụng rõ rệt mà cũng chỉ gồm có 4 hay 5 vị như bài tứ quân bổ khí có 4 vị là: sâm (đảng sâm hay nhân sâm), linh (phục linh), truật (bạch truật), thảo (cam thảo); bài tứ vật bổ huyết cũng chỉ có 4 vị là: quy (đương quy), khung (xuyên khung), thục (thục địa), thược (bạch thược hay xích thược); bài tiểu thừa khí nổi tiếng chữa đầy bụng, táo bón, nóng sốt từng cơn, cũng chỉ có 3 vị là đại hoàng, hậu phác và chỉ thực. Có những bài thuốc chỉ có hai vị như bài lục nhất (lục là 6, nhất là 1 vì trong bài thuốc có 6 phần hoạt thạch và 1 phần cam thảo) chữa cảm sốt, người nóng, miệng khô, tiểu tiện đỏ; bài thủy lục nhị tiên thang gồm 2 vị là kim anh và khiếm thực. Lại có nhiều bài chỉ gồm có 1 vị như cao ban long, a giao, cao quy bản v.v…
Trương Trọng Cảnh một danh y thời xưa của Trung Quốc, có uy tín tới mức mà các cụ lang coi như là một thánh sư trong đông y, khi kê đơn thuốc thường chỉ dùng 4 hay 5 vị, đặc biệt lắm mới thấy dùng tới 6 hay 8 vị, rất ít khi dùng hơn.
Coi vậy ta thấy khi kê đơn thuốc đông y, nhất thiết không bắt buộc phải kê nhiều vị, ta có thể dùng 1 vị, 2 vị hay 3 hoặc 4 vị, nhưng điều chủ yếu là phải cân nhắc thật cẩn thận.
-
Liều lượng các vị thuốc đông y nên như thế nào?
Một số người cho rằng dùng thuốc đông y phải dùng liều lượng cao từ hàng lạng (40g) trở lên, có những thang thuốc phải dùng một cái ấm khá lớn mới có thể sắc được. Sự thực không cần thiết như vậy. Nếu vị thuốc còn tươi thì có thể phải dùng liều lượng nhiều chừng 30-50g trở lên; nhưng sau khi đã phơi khô, hoặc khi dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác, ta chỉ cần liều lượng trung bình cho mỗi vị từ 4 đến 12g (1 đến 3 đồng cân). Khi phối hợp nhiều vị với nhau, ta có thể giảm liều xuống 1/3 hay 1/2. Một số vị thuốc mạnh như xạ hương, ngưu hoàng, thềm tô (nhựa cóc) cần dùng với liều lượng rất thấp để tránh ngộ độc.
Khi mới kê đơn, ta chưa nhớ liều lượng, nên mỗi khi dùng cần xem lại tài liệu, một khi đã quen rồi thì ta không cần tra cứu nữa.
-
Vấn đề kiêng khem khi uống thuốc đông y
Hiện nay, trong khi uống thuốc đông y, một số lương y bắt bệnh nhân kiêng nhiều món ăn quá như rau muống, đậu xanh, thịt gà, cá chép, các món ăn tanh như tôm cá, đôi khi lại không cho phối hợp với các vị thuốc tây. Cách đòi hỏi đó đã gây một ấn tượng không tốt đối với thuốc đông y, mà thực tế không có cơ sở chính xác.
Phải nhận thấy rằng khi mắc một số bệnh, hay khi uống một số vị thuốc, bệnh nhân cần tránh ăn một số thức ăn, hay cần tránh uống cùng một lúc với một số vị thuốc khác có tác dụng ngược lại với vị thuốc đang uống, hay có thể gây với những vị thuốc đang uống một số phản ứng làm cho thuốc trở thành độc hay nguy hiểm. Điều này có cơ sở khoa học và đã được chứng minh, trong tây y có quy định.
Qua kinh nghiệm thực tế lâm sàng, ông cha ta cũng đã phát hiện thấy khi uống một số vị thuốc đông y hay khi mắc một số bệnh thì cần tránh một số vị thuốc nhất định; điều này có ghi trong các sách; ví dụ trong sách cổ có ghi những người âm hư nhiệt (?) không dùng được vị ngải cứu; những người hư nhược không tích trệ không dùng vị nga truật; phàm những người nào tỳ, vị hư hàn mà không có nhiệt độc không nên dùng vị hoa kim ngân v.v…
Nhiều vị thuốc sau khi ghi tác dụng còn ghi vị thuốc đó ghét vị thuốc nào khác (tương ố), hay sợ vị thuốc nào khác (tương úy) hoặc có tác dụng ngược lại với vị thuốc nào khác (tương phản); một số vị thuốc lại có tác dụng tiêu diệt sức phản ứng trúng độc của một vị thuốc khác như vị phòng phong trừ độc tính của vị phê sương (tương sát).
Mặc dầu một số danh từ một số bệnh ghi trong sách cổ rất khó xác định nhưng trong khi cho dùng thuốc đông y, ta nên theo dõi xem trường hợp nào cần tránh vị thuốc nào, để nếu cần thiết thì viết lại theo quan niệm bệnh mới; đối với sự tương kỵ hay tương úy, tương ố giữa một số vị thuốc cũng vậy ta nên theo dõi để rồi quy định lại.
Chúng ta dùng thuốc đông y nên có ý thức vừa dùng vừa rút kinh nghiệm. Đối với việc kiêng khem cũng nên như vậy. Những trường hợp đã đúng và chính xác rồi thì ta nên theo và nghiên cứu thêm để nắm nguyên nhân vì sao phải kiêng khem, nhưng cũng có nhiều trường hợp cần kiểm tra lại vì do người nọ truyền người kia, tam sao thất bản làm cho việc kiêng khem có màu sắc thần bí, không bảo đảm chính xác.
Trên cơ sở đó ta thấy vừa dùng thuốc tây vừa dùng thuốc đông không mất tác dụng của loại thuốc nào, miễn là những vị thuốc dùng cùng một lúc không có vị nào có tác dụng ngược lại nhau hay phá hủy tác dụng của nhau.
Nội dung một đơn thuốc đông y
Trong một đơn thuốc đông người ta thường nói phải có đủ thành phần quân, thần, tá, sứ. Đó cũng chỉ là cách nói của người xưa dưới chế độ phong kiến. Coi triều đình có vua, có quan thì đơn thuốc cũng phải vị chính, vị phụ, vị nào chủ yếu, vị nào hỗ trợ.
Quân là vị thuốc chủ yếu để chữa bệnh, nhằm giải quyết triệu chứng chủ yếu cần phải thanh toán. Một vị quân không bắt buộc phải có liều lượng cao hơn các vị thuốc khác trong đơn, vì nếu là vị thuốc có tác dụng mạnh thì chỉ cần liều nhỏ cũng đủ.
Thần là vị thuốc đóng vai trò giúp đỡ làm cho hiệu lực của vị thuốc chủ yếu mạnh thêm.
Tá là vị thuốc nhằm hai mục đích: một là ức chế vị quân khi vị quân có độc quá cao hay tác dụng hơi thiên lệch; mục đích thứ hai nhằm giúp vị quân giải quyết một số triệu chứng thứ yếu của tật bệnh, khi bệnh kèm theo một số triệu chứng khác.
Sứ cũng dùng nhằm hai mục đích: một là để nó dẫn các chất thuốc vào kinh như dùng vị khương hoạt để dán thuốc vào kinh thái dương, dùng cát căn để đưa thuốc vào kinh dương minh; tác dụng thứ hai của nó là đóng vai trò thứ yếu, hỗ trợ trong đơn thuốc.
Ví dụ trong đơn ma hoàng thang của Trương Trọng Cảnh dùng chữa các chứng suyễn mà không ra mồ hôi, nhức đầu, phát sốt, sợ rét, thân thể đau nhức, có những vị thuốc sau đây: ma hoàng là vị quân làm cho ra mồ hôi và giải biểu, quế chi là thần giúp ma hoàng làm cho ra mồ hôi và giải biểu, hạnh nhân là tá giúp ma hoàng hạ cơn suyễn, cam thảo là sứ điều hòa các vị thuốc.
Tuy đơn phải có đủ quân, thần, tá, sứ nhưng không nhất thiết đơn thuốc nào cũng phải có đủ 4 vị, vì có khi một vị cũng có thể làm nhiệm vụ cả quân và sứ hoặc cả thần và tá.
Ví dụ đơn cát cánh cam thảo thang chỉ gồm có hai vị là cát cánh và cam thảo. Cát cánh vừa là quân, thông lợi cuống họng, chữa ho, vừa là sứ để dẫn thuốc đi lên; cam thảo vừa là thần, ngọt nhuận sinh tân dịch, vừa là tá, thanh nhiệt giải độc.
Đơn thuốc tiểu thừa khí gồm 3 vị: đại hoàng, mang tiêu và cam thảo. Đại hoàng vừa là vị quân, thanh nhiệt, công tỳ, vừa là sứ tự đi vào trường và vị: mang tiêu là vị thần, vị mặn làm mềm chất rắn, nhuận táo; cam thảo là vị tá, hòa hoãn sức tả mạnh của mang tiêu, đại hoàng đồng thời có tác dụng điều vị, nhuận táo.
Tóm lại vấn đề quân thần tá sứ trong đơn thuốc đông y cũng cùng một ý nghĩa như khi kê một đơn thuốc tây là có vị chính, vị phụ. Nắm vững nhiệm vụ của từng vị trong đơn thuốc là ta có thể kê được.
Các dạng thuốc kê trong đơn
Đơn thuốc đông y căn bản cũng giống như đơn thuốc tây y; ngoài dạng thuốc tiêm không có trong đông y những hình thức khác không khác tây y nhiều lắm. Ngay như thang thuốc mua về phải sắc làm cho ta cảm như đó là một dạng thuốc độc đáo của đông y cũng đã có trong tây y với tên chè (thé) hay espèces có tên la tinh là Species, gồm nhiều vị thuốc thảo mộc cắt thái nhỏ để hãm hay sắc uống.
Hiểu như vậy để chúng ta có thể vững tâm khi kê đơn thuốc đông y có chăng chỉ có khác nhau do danh từ dùng khác nhau.
Sau đây là một số dạng thuốc thường dùng trong đông y:
-
Thuốc thang là một dạng thuốc gồm nhiều vị thuốc thảo mộc, động vật hay khoáng vật đã chế biến thái nhỏ để sắc hay ngâm rượu uống. Thuốc thang tác dụng nhanh do đó hay dung trong trường hợp cấp tính.
Có những thang thuốc phải sắc lâu mới khỏi độc và thuốc mới chữa khỏi bệnh như đơn thuốc có vị phụ tử nhưng cũng có những thang thuốc chỉ cần đun sôi 15 - 30 phút là dùng được rồi.
-
Thuốc viên (hoàn) thường chế bằng cách tán các vị thuốc thành bột, rồi luyện với nước, hay với mật mía hay mật ong, hoặc nước hồ rồi viên thành viên. Thuốc viên thường tan chậm cho nên thường dùng khi cần chữa bệnh mãn tính, nhưng cũng có khi dùng viên để chữa bệnh cấp tính vì thuốc thơm có tinh dầu nếu dùng sắc chắc sẽ kém tác dụng do đó chế thành viên sẽ tốt hơn. Nếu chế đúng phép, bảo quản tốt, thuốc viên có thể để lâu được, khi bất thường phải dùng đến có ngay, rất tiện.
-
Thuốc bột (tán) là các vị thuốc tán nhỏ. Thuốc bột có thể chỉ gồm một vị nhưng cũng có thể gồm nhiều vị. Thuốc bột dùng uống hay dùng rắc ngoài da. Khi bôi ngoài có thể thêm nước khuấy đều rồi bôi lên hay rắc bột khô lên. Có khi còn dùng thổi vào mũi, vào lỗ tai. Dùng thuốc bột uống có thể chiêu thuốc bằng nước thường, nước chè hay nước cơm. Điều bất tiện của thuốc bột thảo mộc là hay mốc mọt.
-
Thuốc cao. Có 2 loại thuốc cao: loại để uống và loại để dán ngoài. Thuốc cao uống căn bản chế bằng cách sắc các vị thuốc bằng nước rồi cô cho tới đặc hay hơi mềm. Trong cao có thể cho thêm đường hay mật để thêm ngọt dễ uống.
Thuốc cao dán ngoài thường là một loại xà phòng chì trong đó có hòa tan các vị thuốc và chất nhựa như nhựa thông, một dược v.v…
Cao dán ngoài thường được phết lên vải hay giấy bản để dán lên nơi mụn nhọt. Ngoài loại cao dán nhọt, còn loại cao gây nóng thường dùng dán vào những huyêt châm cứu để kích thích thay kim hay thay mỗi ngải cứu, ví dụ cao thiếu lâm.
-
Đơn (đan). Lúc đầu chữ đơn chỉ dành để chỉ những thuốc chế từ kim loại như hồng đơn (chì oxyt); về sau những đơn thuốc chế phức tạp cũng gọi là đơn. Cùng loại với thuốc viên hoàn hay thuốc đĩnh. Có thể nói chữ đơn hiện nay đã mất ý nghĩa ban đầu để chỉ một dạng thuốc mà chữ đơn hiện nay bao gồm cả viên hoàn và viên đĩnh (xem chữ đĩnh).
-
Thuốc rượu. Đem các vị thuốc ngâm với rượu (35-40 độ) hay cho rượu vào nấu cách thủy cho chất thuốc tan hết vào rượu, sau đó bỏ bã lấy rượu uống hay bôi xoa bên ngoài. Rượu thuốc có tác dụng nhanh, đưa thuốc đi khắp cơ thể, lại dễ để dành không hỏng. Nhưng có một số thuốc không tan vào rượu và một số bệnh nhân không uống được rượu, không thể dùng dạng thuốc này được.
-
Thuốc nước cất (lộ). Là một dạng thuốc chế bằng cách cho thuốc vào nước rồi cất lấy chất bay hơi. Mùi vị thơm nhạt dễ uống. Tuy nhiên dạng thuốc này ít được sử dụng.
-
Thuốc đĩnh là một dạng thuốc gồm các vị thuốc tán nhỏ, luyện với một chất nước dính rồi chế thành thỏi như chiếc bút chì ngắn hai đầu tròn có thể nuốt hay mài với nước mà uống hay bôi lên chỗ đau. Có khi không chế thành thỏi mà chế thành bánh. Tên đĩnh là vì dạng thuốc giống như đĩnh bạc, thoi vàng ngày xưa dùng chi tiêu thay tiền.
-
Thuốc xông. Có hai loại thuốc xông: xông lửa là bỏ các vị thuốc vào lò than lửa, lấy khói xông vào chỗ đau như dùng hùng hoàng để xông; có khi cho vào nước đun sôi lấy hơi nước mang theo hơi thuốc mà xông vào chỗ bị đau như khi ta dùng ngũ bội tử nấu xông chữa bệnh trĩ.
-
Tọa dược là thuốc viên hay thuốc đĩnh nhưng gói vào lụa để vào âm đạo chữa khí hư bạch đối của phụ nữ.
So sánh cân lạng ta về kilôgam
Một yến ta: 10 cân ta: 6,048kg, nếu theo dược điển Trung Quốc, 1963, thì một yến ta bằng đúng 5kg.
Một cân ta (thị cân Trung Quốc): 16 lạng ta: 0,6048kg hoặc 0,500kg (theo DĐTQ, 1963). Một lạng ta: 10 đồng cân hay 10 tiền: 37,77g hoặc 31,25g (theo DĐTQ, 1963).
Một phân ta: 10 ly: 0,377g hay 0,3125g (theo DĐTQ, 1963).
Một lai ta: 0,00377g hay 0,0031g (theo DĐTQ, 1963).
Hiện nay ta đã quy định dùng theo cân lạng kg v.v… Tuy nhiên ta cần biết bảng so sánh đối chiếu này để đọc và tham khảo các tài liệu cũ.
Comments